Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở KHU 4 VÀ HÀ TĨNH TRONG CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT (1965- 1968) 1. Vị trí địa lý và vai trò của giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4. Trên dải đất Việt Nam hình chữ S, Khu 4 ở vào khoảng 16,2 đến 20,3 độ vĩ Bắc, 103,5 đến 108,10 độ kinh Đông. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), địa bàn Khu 4 bao gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên1.
Phía Bắc giáp các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình (Khu 3), Sơn La (Khu 2). Phía Tây giáp các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn, một phần tỉnh Xa Van Na Khét (thuộc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), có đường biên giới trên 1000km. Phía Đông giáp biển Đông có bờ biển dài 644 km. Phía Nam giáp Quảng Nam, Đà Nẵng.
Khu 4 có địa thế dài và hẹp dần về phía Nam, nghiêng dần về phía Đông. Nơi rộng nhất là Nghệ An (207 km), nơi hẹp nhất 46,5 km thuộc huyện Lệ Thuỷ (Quảng Bình). Diện tích tự nhiên toàn Khu 4 thời kỳ này khoảng trên 52.000 km2 trong đó vùng đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên. Núi hiểm trở, có nhiều điểm cao và nhiều dãy núi liên tiếp tạo thành những bức chắn ngang dọc, đều xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, vươn xuống vùng trung du, đồng bằng và men tới biển làm cho địa hình nơi đây bị chia cắt mạnh.
Hệ thống sông suối ở Khu 4 nhiều và đều bắt nguồn từ tây - tây bắc chảy về hướng đông - đông nam. Các con sông lớn như sông Chu, sông Mã, sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố, sông Gianh, sông Thạch Hãn, 1. Sự phân chia hành chính này có sự thay đổi trong một số giai đoạn. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sông Hương.
tạo nên các vùng đồng bằng ở Nông Cống (Thanh Hoá), Yên Thành (Nghệ An), Can Lộc, Đức Thọ (Hà Tĩnh), Lệ Thuỷ (Quảng Bình) và vùng đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên. Dọc ven biển có 16 con sông, lạch lớn nhỏ bao gồm: Lạch Trường, Lạch Cờn, Lau Chẹt, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa Lò, Sông Lam, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu, Cửa Ròn, Cửa Dinh, Gianh, Nhật Lệ, Cửa Tùng, hình thành những “càng cua” lợi hại trong phòng thủ đất nước. Sông suối ở Khu 4 từ miền núi cao chảy cắt ngang giữa các tỉnh, huyện, qua đường số 1, đường sắt. tạo nên một hệ thống cầu phà phức tạp.
Đây cũng là những trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, gây cho ta rất nhiều khó khăn trong việc khắc phục, cơ động lực lượng và vận chuyển theo đường bộ, đường sắt. Vùng biển và ven biển Khu 4 ngoài khơi gần bờ có 11 đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn: Hòn Mê, Hòn Mắt, Hòn Ngư, Cồn Cỏ có vị trí quan trọng về chiến lược, chiến thuật. Về khí hậu, Khu 4 thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình trên dưới 2.000mm/ 1 năm nhưng phân bố không đều. Lượng mưa tập trung vào tháng 8, 9, 10.
Ở Thanh Hoá mưa sớm hơn Nghệ An, Nghệ An mưa sớm hơn Quảng Bình, Vĩnh Linh khoảng 1 tháng, do đó mùa mưa ở Khu 4 thường kéo dài đến cuối tháng 12 mới hết. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, kèm theo gió Tây tạo ra khô nóng, nhiệt độ trung bình 25 - 300 C, có lúc lên đến 400 C. Do mưa lớn và hạn hán kéo dài nên thường bị lũ lụt hoặc hạn hán từ tháng 7 đến tháng 10. Nơi đây cũng thường phải hứng chịu những cơn bão lớn hoặc áp thấp từ biển tràn vào, thỉnh thoảng có lốc xoáy trên diện rộng.
Những đặc điểm về địa hình, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt trên đây đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, văn hoá, xã hội của cư dân sống trên địa bàn Khu 4, đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đối với việc xây dựng và hoạt động GTVT. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngay khi hiệp định Giơ-ne-vơ chưa được ký kết, với tầm nhìn xa, trông rộng, ngày 15-7-1954 tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá II) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: Mỹ là kẻ thù chính của hoà bình thế giới, là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào. Chính sách của ta là tranh thủ hoà bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ. Với đế quốc Mỹ thì bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, phải chuẩn bị trước [ 29; tr.
Nhận định sáng suốt và tư tưởng chiến lược của Người đã trở thành kim chỉ nam cho Đảng ta, kịp thời đánh giá tình hình chính xác và định ra những quyết định đúng đắn, chuẩn bị cho đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gian khổ để giành thắng lợi vẻ vang. Trên tinh thần đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta ra sức xây dựng, củng cố miền Bắc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, trước hết bằng việc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, trong đó đặc biệt chú ý khôi phục Ngành GTVT. Phối hợp với cán bộ, công nhân Ngành GTVT, lực lượng vũ trang đã khẩn trương tu tạo lại những tuyến đường sắt, đường bộ bị phá huỷ trong kháng chiến chống Pháp; xây dựng, nâng cấp các tuyến đường giao thông mới để củng cố miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu của kẻ thù, trực tiếp là đế quốc Mỹ. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“Cầu đường là mạch máu của một nước”, “Giao thông vận tải thắng lợi tức là chiến tranh đã thắng lợi phần lớn rồi”, tháng 5 năm 1959 Đoàn vận tải 559 được thành lập, mở đường chi viện cho cách mạng miền Nam2.
Từ hơn bốn trăm người 2. Khi mới thành lập, có tên là Đoàn công tác quân sự đặc biệt. Đồng chí Võ Bẩm được Trung ương Đảng cử làm Đoàn trưởng đầu tiên. Về sau thời gian quyết định thành lập (tháng 5-1959) được lấy làm phiên hiệu chính thức của Đoàn 559.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com áo bà ba, đầu trần, chân đất, lặng lẽ giữa đại ngàn Trường Sơn “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, gùi cõng từng khẩu súng, viên đạn, soi đường về Nam; sau 7- 8 năm đã phát triển lên gần 30 nghìn người với nhiều lực lượng. Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - tuyến đường mang tên Hồ Chí Minh đã tiến lên từ thô sơ, gùi cõng đến vận tải cơ giới. Cũng từ đó, nhiệm vụ bảo đảm giao thông và vận tải qua địa bàn Khu 4 tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn càng được đặt ra khẩn thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ vị trí địa lý đặc biệt và nhiệm vụ cách mạng chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Khu 4 vừa là hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam và chiến trường Nam Đông Dương, vừa là tiền tuyến của hậu phương miền Bắc XHCN.
Đây cũng là nơi hội tụ đủ tất cả các tuyến giao thông chiến lược Bắc- Nam, nơi khởi nguồn của tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Từ hậu phương miền Bắc gần như hết thảy lực lượng, vật chất chi viện cho miền Nam, Trung - Hạ Lào, Cam-pu-chia đều phải qua vùng đất Khu 4. Trong 10 năm (1955 - 1964) tranh thủ thời gian hoà bình, quân và dân Khu 4 đã ra sức khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng củng cố quốc phòng - an ninh, trong đó chú trọng củng cố và xây dựng hệ thống giao thông vận tải, tuy chất lượng chưa cao nhưng đa tuyến, có giá trị về kinh tế và quốc phòng, lúc thời bình cũng như thời chiến. Theo Trung tướng Nguyễn Khắc Dương - Nguyên Tư lệnh Quân khu 4 trong bài viết tham gia hội thảo khoa học “Mặt trận GTVT trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” cho biết: Tuyến đường sắt Bắc- Nam qua địa bàn Quân khu dài 774,6 km, có 70 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy dọc đồng bằng gần như song song với đường số 1 cùng với các tuyến đường phụ (Cầu Giát - Nghĩa Đàn; Vinh - Cửa Lò; Vinh - Bến Thuỷ).
Khối lượng vận chuyển qua 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đường sắt khá cao nhưng rất dễ bị địch khống chế, chia cắt. Tuyến đường bộ có đường số 1 chạy dọc ven biển gần đường sắt, qua hai đèo cao (đèo Ngang, đèo Lý Hoà); qua nhiều phà, cầu lớn nên dễ bị địch phát hiện, đánh phá. Đường 15 từ Vạn Mai (giáp giới Thanh Hoá, Hoà Bình) chạy dọc Đông Trường Sơn qua các “chốt” Quan Hoá, Triệu Sơn, Nghĩa Đàn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Tuyên Hoá, Bãi Hà, Hướng Hoá. cùng với các tuyến đường ngang như đường 217 (Đồng Tâm - Na Mỡi - Bắc Lào), đường số 7 (Diễn Châu - Nậm Cắn qua Lào), đường số 8 (Bãi Vọt - Hương Sơn, Na Pê - Lạc Xao).
Các đường 10, 12, 16, 20 nối đường 15 đoạn Quảng Bình qua Lào cùng các đường liên huyện, liên xã, đường lên các nông, lâm trường. Tuyến đường thuỷ bao gồm đường biển và hệ thống sông suối, kênh nhà Lê. Do nhiều sông suối nên số cầu lên đến 406 chiếc, bình quân mỗi cầu dài 15m với 10 phà lớn (Ghép, Bến Thuỷ, Sông Gianh, Quán Hàu, Xuân Sơn, Long Đại, Đô Lương, Nam Đàn, Linh Cảm, Địa Lợi.); có một số cầu lớn khi chiến tranh xảy ra phương tiện đi qua phải chuyển sang phà (Đò Lèn, Hàm Rồng, cầu Tào, Hoàng Mai, Bùng, Phương Tích, Nghèn, Già, Cày, Phủ, Họ, Rác, Lý Hoà, Cầu Dài. Trên tuyến đường số 1 bình quân 2 đến 3km có một cầu lớn (trên 15m), cứ 800- 1.200m có một cầu nhỏ.
Riêng địa phận Hà Tĩnh có tới 300 cầu…[5; tr. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nhiệm vụ cách mạng chiến lược của hai miền Nam - Bắc trong giai đoạn mới, tranh thủ những năm hoà bình, quân và dân Khu 4 đã chủ động xây dựng, mở mang mạng đường giao thông liên huyện, liên tỉnh. Tuyến đường sắt Hà Nội- Vinh mà chủ yếu là đoạn Thanh Hoá - Vinh nhanh chóng được khôi phục và đưa vào sử dụng góp phần đưa mức vận chuyển bằng đường bộ tăng gấp đôi so với trước.