phần mở đầu,kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nền tảng phát triển doanh nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích và đánh giá nền tảng phát triển tại công ty cổ phần Gốm Chu Đậu Chƣơng 4: Đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện nền tảng phát triển công ty cổ phần Gốm Chu Đậu 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Một số các công trình nghiên cứu trên thế giới về nền tảng phát triển doanh nghiệp Ở góc độ nghiên cứu quốc tế, đã có nhiều công trình đề cập đến nền tảng phát triển doanh nghiệp. Baker Ted, Gedajlovic Eric and Lubatkin Michael (2005) đã nghiên cứu các khung phân tích trƣớc đây về tinh thần và nền tảng phát triển doanh nghiệp và phát hiện ra rằng chƣa có tiêu chí và khung đánh giá thống nhất về nền tảng phát triển doanh nghiệp.
Các tác giả này sau đó đã đề xuất khung nghiên cứu, so sánh, đánh giá tinh thần và nền tảng phát triển doanh nghiệp xuyên quốc gia trong đó đề cao vai trò của động cơ cá nhân ảnh hƣởng đến các quyết định khởi nghiệp. Lumpkin and Dess Gregory (1996) thực hiện nghiên cứu và chia các dạng định hƣớng khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp thành các nhóm khác nhau và cho rằng các định hƣớng này có tác động khác nhau đến kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp. Cụ thể, hai tác giả cho rằng có 5 định hƣớng khởi nghiệp khác nhau bao gồm định hƣớng tự chủ, định hƣớng đổi mới, định hƣớng ƣa mạo hiểm, định hƣớng tiên phong, và định hƣớng cạnh tranh chủ động. Các định hƣớng này mạnh yếu hay hiệu quả phụ thuộc vào yếu tố môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng ngành nơi doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh.
Không giống nhƣ 2 nhóm tác giả trƣớc nghiên cứu, tổng hợp và đề xuất mô hình về nền tảng phát triển doanh nghiệp, Stopford John và Baden-Fuller Charles (1994) thực hiện nghiên cứu thực chứng tại 10 doanh nghiệp châu Âu trong 4 ngành công nghiệp khác nhau đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tinh thần khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tất cả các công ty xây dựng hoặc cố gắng để xây dựng các thuộc tính của tinh thần doanh nghiệp trong một thời gian nhiều năm chứ không phải qua một sự kiện duy nhất. 4 Ngoài ra, các doanh nghiệp này cũng đã nội hóa các yếu tố môi trƣờng kinh doanh và phối hợp các nguồn lực một cách sáng tạo để có thể cung cấp cho doanh nghiệp nền tảng vững chắc trong quá trình phát triển. Dựa trên quá trình khảo sát 30 doanh nghiệp toàn cầu về quá trình phát triển doanh nghiệp, Wolcott và Lippitz (2007) đã tổng quát hóa 4 mô hình phát triển doanh nghiệp gồm mô hình “kẻ cơ hội” (opportunist), mô hình “nhà kiến tạo” (enabler), mô hình “nhà sản xuất” (producer), mô hình ngƣời ủng hộ (advocate).
Hai tác giả này đã xác định các nhân tố định hƣớng cho việc áp dụng các mô hình phát triển doanh nghiệp nhƣ tầm nhìn của nhà lãnh đạo, các mục tiêu chiến lƣợc của công ty và nền văn hóa tổ chức. Một số các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về nền tảng phát triển doanh nghiệp Tại Việt Nam, cải cách kinh tế năm 1986 giúp Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế định hƣớng thị trƣờng. Chính sự chuyển đổi này đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho những ngƣời Việt Nam có hoài bão thực hiện khởi nghiệp. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, trong năm 2015, cả nƣớc có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, có 21.506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39,5% so với năm trƣớc.
Bên cạnh đó, số doanh nghiệp ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng không ít. Số liệu cho chúng ta thấy cần phải phát triển nghiên cứu về nền tảng phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Việt Nam về chủ đề nền tảng phát triển doanh nghiệp chƣa nhiều và mang tính hệ thống. Các nghiên cứu gần đây về doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào tinh thần doanh nghiệp và khởi nghiệp kinh doanh.
Phan và các cộng sự (2009) đã tổng hợp các hƣớng nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp từ đó đặt ra hƣớng nghiên cứu tƣơng lai tập trung vào cơ chế quản trị doanh nghiệp và vai trò của nhà quản trị trong phát triển doanh nghiệp. Hoàng Văn Hải (2013) trong sách“Quản trị chiến lƣợc‟‟ cho rằng, trong bối cảnh môi trƣờng kinh doanh biến động và mang tính toàn cầu nhƣ hiện nay, các 5 doanh nghiệp không thể có đƣợc sự thành công lâu dài, bền vững nếu nhƣ không có chiến lƣợc đúng đắn. Hoàng Văn Hải và cộng sự (2012) trong sách "Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập" cho rằng các yếu tố cấu thành tinh thần doanh nghiệp Việt Nam bao gồm ba khía cạnh cơ bản đó là triết lý kinh doanh, bản lĩnh nhà quản trị và động cơ kinh doanh. Nhóm tác giả cũng chỉ ra các biểu hiện đặc trƣng của tinh thần doanh nghiệp Việt Nam đó là nỗ lực học hỏi công nghệ mới, ý thức chủ động trong kinh doanh hay tìm kiếm thị trƣờng mới.
Trong khi đó Đinh Việt Hòa (2012) trong cuốn "Tinh thần khởi nghiệp kinh doanh – Trái tim của một doanh nhân" cũng đã luận bàn về khởi nghiệp kinh doanh thông qua việc tìm hiểu lịch sử khởi nghiệp kinh doanh, bản chất doanh nhân khởi nghiệp, ƣớc mơ của ngƣời làm chủ doanh nghiệp, và vai trò của khởi nghiệp đối với phát triển kinh tế Việt Nam. Nguyễn Ngọc Thắng (2012) đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh trong thời gian qua với việc gia tăng cả về lƣợng và chất. Đóng vai trò trụ cột trong kinh tế địa phƣơng vì doanh nghiệp lớn thƣờng đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nƣớc thì doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt ở khắp các địa phƣơng và là ngƣời đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lƣợng và tạo việc làm cho địa phƣơng. Bên cạnh đó giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế thông qua việc trở thành các nhà cung cấp, thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế.
Trong tƣơng lai các doanh nghiệp này sẽ làm cho nền kinh tế năng động hơn và góp phần vào việc tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ cho Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn chƣa có nhiều lãnh đạo doanh nghiệp đƣợc tiếp cận đào tạo bài bản về khoa học quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng chƣa tập trung vào những nền tảng của mình để phát triển doanh nghiệp (Phạm Minh Chính, Vƣơng Quân Hoàng, 2009). Phùng Xuân Nhạtrong sách “Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh” cho rằng một trong những khía cạnh biểu hiện rõ nét nhất thành công của chính sách đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là đã tạo điều kiện và môi 6 trƣờng thuận lợi cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp, hình thành lên một cộng đồng hàng triệu ngƣời làm nghề kinh doanh, với nòng cốt là đội ngũ doanh nhân “thế hệ mới”, dám đƣơng đầu với thách thức, khát khao thành công, nỗ lực học hỏi để vƣơn lên trong nền kinh tế cạnh tranh mang tính toàn cầu.
Vƣơng Minh Quân và Trần Trí Dũng (2009) đã bàn về các yếu tố văn hóa và kinh tế xã hội có ảnh hƣởng đến sự phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo các tác giả này, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn tiếp tục có ảnh hƣởng lớn đến xã hội Việt Nam và thậm chí là ảnh hƣởng tiêu cực đến tinh thần doanh nghiệp trong cộng đồng. Những hạn chế cơ bản đến tinh thần doanh nghiệp gồm (1) sự chi phối của quan hệ cá nhân trong hoạt động tín dụng, (2) sự thiếu coi trọng vai trò của doanh nhân trong nền kinh tế Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau về nền tảng phát triển doanh nghiệp nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu tập trung, đầy đủ về cấu trúc nền tảng phát triển doanh nghiệp tại một doanh nghiệp cụ thể.Bản chất của nền tảng phát triển doanh nghiệp Phát triểndoanh nghiệp (entrepreneurship) là một hiện tƣợng(phenomenon)kinh tếxã hội khách quan và có từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Về mặt ngôn ngữhọc, khái niệm nàyđƣợc dùng chính thức từ thế kỷ 18 bởi nhà kinh tế học ngƣời Pháp là Richard Cantillon (Lumpkin et al., 1996) và có nguồn gốc từ tiếng Pháp: từ entrepreneur (doanh nhân) bắt nguồn từ hai từentre(hay betweentrong tiếng Anh) nghĩa là sự lựa chọn giữa nhiều phƣơng án hành động khác nhau và từ prendre (hay totake trong tiếng Anh) nghĩa là nắm bắt.
Gộp chung hai từ đó lại, từ doanh nhân (entrepreneur) đƣợc dùng để nói về những ngƣời đảm nhận hay dám chịu trách nhiệm về những rủi ro giữa ngƣời mua và ngƣời bán, hay là những ngƣời thực hiện những nhiệm vụ có nhiều rủi ro nhƣ khởisự một hoạt động kinh doanh. Cơ hội phát triển kinh doanh (entrepreneurial opportunities) là những tình huống mà những sản phẩm, dịch vụ có thể đƣợc thực hiện và bán cao hơn giá thành 7 sản xuất. Cơ hội phát triển kinh doanh khác với cơ hội kinh doanh thông thƣờng (other opportunities for profit) ở chỗ nó đòi hỏi phải có sự tìm kiếm một những mối quan hệ phƣơng tiện -mục đích mới (new means-ends relationship), trong khi các cơ hội kinh doanh thông thƣờng chỉ hàm ý việc tối ƣu hóa các khuôn khổ phƣơng tiện -mục đích hiện có. Cơ hội phát triển kinh doanh có thể tồn tại dƣới nhiều hình thức bao gồm cả ở thị trƣờng sản phẩm, yếu tố, nguyên vật liệu.
Sở dĩ có cơ hội phát triển kinh doanh chủ yếu là do các thành viên trong xã hội có mức độ tin tƣởng khác nhau về giá trị tƣơng đối của các nguồn lực, dựa trên tiềm năng chuyển đổi chúng thành các trạng thái (hay sản phẩm, dịch vụ) khác nhau (Shaneet al. Cơ hội phát triển kinh doanh tồn tại một cách khách quan nhƣng quá trình nhận biết nó lại mang tính chủ quan. Tại sao, khi nào và nhƣ thế nào mà một hay một nhóm các cá nhân lại nhận biết đƣợc một cơ hội phát triển kinh doanh mà không phải là một cá nhân hay một nhóm các cá nhân khác?