Tổng quan luận án

Tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đang là một thách thức y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Sự gia tăng nhanh chóng của các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc làm suy giảm hiệu quả điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng chi phí y tế và nâng cao tỷ lệ tử vong. Trong bối cảnh đó, kết quả xét nghiệm vi sinh đảm bảo chất lượng giữ vai trò quyết định, cung cấp bằng chứng tin cậy cho việc chẩn đoán căn nguyên, lựa chọn kháng sinh hợp lý, xây dựng phác đồ điều trị, giám sát dịch tễ vi khuẩn kháng thuốc và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn 2013 - 2020, đặt trọng tâm vào việc củng cố và nâng cao năng lực hệ thống giám sát kháng thuốc mà nòng cốt là các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng.

Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, các điều tra về năng lực phòng xét nghiệm vi sinh tại Việt Nam còn rất hạn chế về số lượng và quy mô, chủ yếu khảo sát ở phạm vi hẹp tại một vài bệnh viện hoặc trung tâm y tế dự phòng. Bức tranh toàn diện về năng lực hệ thống phòng xét nghiệm vi sinh tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh — bao gồm cơ cấu tổ chức, nhân lực, trang thiết bị, sinh phẩm, quy trình kỹ thuật, công tác nội kiểm, ngoại kiểm cũng như mức độ tương tác, chia sẻ thông tin với khối lâm sàng — vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Xuất phát từ khoảng trống thực tiễn đó, luận án tiến sĩ y học chuyên ngành Y tế công cộng của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Châu với đề tài "Năng lực xét nghiệm vi sinh và thực trạng kháng kháng sinh tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh năm 2012 - 2015" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học giúp các bệnh viện nâng cao chất lượng xét nghiệm, đồng thời hỗ trợ các bệnh viện tuyến trung ương xây dựng kế hoạch đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và chỉ đạo tuyến phù hợp.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả năng lực xét nghiệm vi sinh của 26 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và thực trạng kháng kháng sinh tại 2 bệnh viện năm 2012 - 2015.
  2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến năng lực xét nghiệm vi sinh và chỉ định xét nghiệm của bác sĩ lâm sàng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian nghiên cứu: 26 khoa/phòng xét nghiệm vi sinh thuộc 26 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh thuộc địa bàn chỉ đạo tuyến của Bệnh viện Bạch Mai tại khu vực phía Bắc Việt Nam; khảo sát chuyên sâu thực trạng kháng kháng sinh tại 2 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đại diện.
  • Thời gian nghiên cứu: Khảo sát thực địa cắt ngang được tiến hành từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015; số liệu theo dõi và hồi cứu về thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn được thu thập trong giai đoạn 2012 - 2015.
  • Đối tượng điều tra: Toàn bộ 26 khoa/phòng xét nghiệm vi sinh; 182 cán bộ, nhân viên trực tiếp quản lý và thực hiện xét nghiệm vi sinh; 1012 bác sĩ công tác tại các khoa lâm sàng có chỉ định xét nghiệm vi sinh (loại trừ các khoa ít phát sinh chỉ định vi sinh như Phục hồi chức năng, Y học cổ truyền, Mắt, Thận nhân tạo, Răng hàm mặt, Ung bướu, Da liễu, Khám bệnh).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quản lý chất lượng phòng xét nghiệm vi sinh và thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn:

Về quản lý chất lượng phòng xét nghiệm vi sinh:

  • Trên thế giới: Các tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về cấp chứng nhận kỹ thuật viên xét nghiệm được Hoa Kỳ thiết lập năm 1918; việc đánh giá chất lượng phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng được triển khai từ cuối thập niên 1960. Các quy định được đưa vào Luật Y tế Hoa Kỳ năm 1966 và chương trình cải tiến phòng xét nghiệm lâm sàng (CLIA) ban hành năm 1967, hoàn thiện trong luật Liên bang năm 1988 (theo Nguyễn Thị Tuyến, 2010). Hệ thống ngoại kiểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mở rộng từ 127 phòng xét nghiệm thuộc 53 quốc gia năm 1991 lên hơn 100 quốc gia tham gia vào năm 2010. Tại khu vực châu Á, Thái Lan đã chuẩn hóa hơn 2000 phòng xét nghiệm từ năm 2004 với hệ thống phòng xét nghiệm tham chiếu; các quốc gia như Malaysia, Philippines, Singapore, Nhật Bản áp dụng kiểm soát nghiêm ngặt về quản lý và an toàn sinh học.
  • Tại Việt Nam: Mạng lưới đánh giá chất lượng từ bên ngoài (ngoại kiểm) trong vi sinh lâm sàng của WHO được triển khai lần đầu năm 1989 thông qua đơn vị phối hợp giữa Bộ môn Vi sinh Trường Đại học Y Hà Nội và Khoa Vi sinh Bệnh viện Thanh Nhàn. Giai đoạn 1989 - 1995 ghi nhận số lượng đơn vị tham gia dao động từ 5 đến 21 phòng xét nghiệm, với chất lượng định loại vi khuẩn còn chênh lệch lớn và dưới mức trung bình của WHO. Khảo sát giai đoạn 2002 - 2005 của Bộ Y tế cho thấy phần lớn nhân viên xét nghiệm chưa được đào tạo bài bản chuyên ngành, thiếu hụt thiết bị kiểm chuẩn. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyến và Đinh Hữu Dung (2010) tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh ghi nhận tỷ lệ bác sĩ tại phòng xét nghiệm vi sinh chỉ chiếm 16,0%. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2009) tại các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cho thấy chỉ 27,9% đạt chỉ tiêu số lượng, 18% đạt trình độ chuyên môn và 55,2% thiếu tủ an toàn sinh học; đến năm 2015, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tùng ghi nhận tỷ lệ có tủ an toàn sinh học đạt 82,2%. Khảo sát của Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến Bệnh viện Bạch Mai tại 9 bệnh viện tỉnh phía Bắc chỉ ra 66,8% bác sĩ lâm sàng chưa từng được tập huấn về vi sinh lâm sàng.

Về tình hình kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn bệnh viện:

  • Quốc tế: Báo cáo giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia Hoa Kỳ (NNIS, 2002) ghi nhận tỷ lệ Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) là 52,3%, Klebsiella pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 10%, Pseudomonas aeruginosa kháng imipenem là 21,4% và kháng quinolone là 23,2%. Nghiên cứu của Ferrara A. (2006) chỉ ra chi phí điều trị nhiễm khuẩn huyết do MRSA lên tới 27.083 USD so với 9.661 USD của chủng nhạy cảm. Kháng kháng sinh của Escherichia coli với cephalosporin thế hệ 3 tại Đông Nam Á dao động từ 20% đến 61%; Acinetobacter baumannii kháng carbapenem tại Anh, Ý từ 70% đến 78%, tại Thổ Nhĩ Kỳ từ 62% đến 66%. Tỷ lệ MRSA tại châu Phi đạt 52 - 95%, châu Mỹ 43 - 45%, châu Á 37%.
  • Trong nước: Điều tra năm 2003 tại 9 bệnh viện đại diện ba miền ghi nhận P. aeruginosa kháng cephalosporin thế hệ 3 trên 50%, kháng imipenem 12,5%. Nghiên cứu năm 2003 tại Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận MRSA chiếm 15,6%, xuất hiện 2,2% S. aureus kháng vancomycin, P. aeruginosa kháng cotrimoxazol 93,4% và imipenem 23,0%. Tại Bệnh viện Trung ương Huế năm 2005, tỷ lệ MRSA trên bệnh nhân bỏng là 93,9%. Nghiên cứu năm 2006 tại Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận A. baumannii chiếm 41,0% vi khuẩn phân lập tại khoa Hồi sức tích cực. Nghiên cứu của Văn Đình Tráng và cộng sự (2010) chỉ ra A. baumannii kháng 100% ampicillin và co-trimoxazole, kháng 91,5% imipenem/meropenem, trong khi còn nhạy cảm 100% với colistin.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Luận án là công trình tổng thể kết hợp khảo sát thực trạng năng lực toàn diện của 26 phòng xét nghiệm vi sinh tuyến tỉnh với phân tích mức độ kháng thuốc trên các chủng vi khuẩn chuẩn hóa theo tiêu chuẩn CLSI và phân tích các yếu tố hành vi chỉ định của 1012 bác sĩ lâm sàng, tạo lập dữ liệu đồng bộ phục vụ chính sách chỉ đạo tuyến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng khung tiêu chuẩn quản lý chất lượng phòng xét nghiệm y học quốc tế (ISO 15189 bao gồm 15 yêu cầu quản lý và 10 yêu cầu kỹ thuật) kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật của ngành y tế Việt Nam:

  • Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12.
  • Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Quyết định số 4858/QĐ-BYT năm 2013).
  • Thông tư số 25/2012/TT-BYT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thực hành và an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm.
  • Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế.
  • Thông tư số 43/2013/TT-BYT quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống khám bệnh, chữa bệnh.
  • Thông tư số 33/2016/TT-BYT quy định tổ chức và hoạt động của khoa Vi sinh trong bệnh viện.
  • Khung phân loại kháng sinh theo nhóm báo cáo A, B, C, O, U dựa trên hướng dẫn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính.

Hợp phần nghiên cứu Đối tượng khảo sát Quy mô mẫu Phương pháp và công cụ thu thập
Đánh giá năng lực xét nghiệm vi sinh Khoa/phòng xét nghiệm vi sinh của 26 BVĐK tuyến tỉnh 26 đơn vị (chọn chủ đích toàn bộ) Phiếu khảo sát số 1 gửi trước, kết hợp khảo sát thực địa, phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo khoa/phòng
Khảo sát nhân viên xét nghiệm Nhân viên làm việc tại khoa/phòng xét nghiệm vi sinh 182 nhân viên (chọn mẫu thuận tiện) Phiếu tự điền số 2a có giám sát, thu hồi sau 15 phút
Khảo sát bác sĩ lâm sàng Bác sĩ công tác tại các khoa lâm sàng thuộc 26 bệnh viện 1012 bác sĩ (chọn mẫu thuận tiện) Phiếu tự điền số 2b tại các buổi giao ban bệnh viện, thu hồi sau 15 phút
Thực trạng kháng kháng sinh Dữ liệu chủng vi khuẩn phân lập tại 2 bệnh viện đa khoa tỉnh Các chủng vi khuẩn phân lập giai đoạn 2012 - 2015 Hệ thống định danh và kháng sinh đồ tự động; phần mềm quản lý dữ liệu vi sinh WHONET

Chỉ số đánh giá năng lực xét nghiệm gồm:

  • Nhân lực: Đảm bảo tối thiểu 2 nhân viên/bệnh viện; cơ cấu trình độ chuyên môn, chuyên ngành đào tạo và tỷ lệ có chứng chỉ hành nghề vi sinh.
  • Trang thiết bị thiết yếu: Kính hiển vi, tủ an toàn sinh học, tủ ấm thường 35 - 37°C, máy cấy máu, tủ sấy, nồi hấp ướt, tủ ấm CO2, tủ ấm 25 - 30°C; việc duy trì bảng theo dõi máy hàng ngày, kế hoạch bảo dưỡng và hiệu chuẩn.
  • Hoạt động chuyên môn: Thực hiện các kỹ thuật nhuộm soi, nuôi cấy, định danh vi khuẩn, làm kháng sinh đồ; ban hành quy trình thực hành chuẩn (SOP); tỷ lệ thực hiện nội kiểm và tham gia ngoại kiểm chất lượng.
  • Xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch, quản lý và phân tích bằng các thuật toán thống kê mô tả, phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan đến mức độ chỉ định xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn của bác sĩ lâm sàng.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra thực địa tại 26 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh; dữ liệu kháng sinh đồ từ 2 bệnh viện nghiên cứu; một phần số liệu kế thừa từ Đề tài khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước mã số KC.18/11-15 thuộc chương trình KC.10/11-15 do Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương chủ trì.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Năng lực xét nghiệm vi sinh và thực trạng kháng kháng sinh

Chương này trình bày cơ sở lý luận về vai trò của phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng trong cơ cấu tổ chức bệnh viện, khẳng định đây là bằng chứng then chốt trong chẩn đoán, điều trị bệnh nhiễm khuẩn và giám sát dịch tễ học kháng thuốc. Tác giả phân tích cơ chế đề kháng sinh học của vi khuẩn bao gồm: đề kháng giả (suy giảm miễn dịch, vi khuẩn ở trạng thái nghỉ ngoan cố, vật cản tuần hoàn) và đề kháng thật (đề kháng tự nhiên, đề kháng thu được qua đột biến gen hoặc tiếp nhận gen kháng thuốc qua tiếp hợp, biến nạp, tải nạp). Bốn cơ chế kháng thuốc sinh hóa chính được làm rõ: giảm tính thấm của màng nguyên tương, thay đổi đích tác động, tạo isoenzym không chịu tác dụng của thuốc và sinh enzym phá hủy kháng sinh (beta-lactamase, ESBL, acetyltransferase).

Chương 1 cũng tổng kết bức tranh lịch sử kháng thuốc từ phát hiện của Ehrlich năm 1911 đến thực trạng lan tràn các chủng vi khuẩn đa kháng (E. coli, S. aureus, P. aeruginosa, K. pneumoniae, A. baumannii, Enterococcus spp.) trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời, chương này phân tích kinh nghiệm quản lý chất lượng xét nghiệm vi sinh quốc tế (ISO 15189, các hệ thống kiểm chuẩn CLIA, WHO) và thực trạng tồn tại ở Việt Nam. Vai trò của công tác chỉ đạo tuyến, đào tạo liên tục và chuyển giao kỹ thuật từ các bệnh viện trung ương như Bệnh viện Bạch Mai (thông qua Đề án 1816, Đề án Bệnh viện vệ tinh) được phân tích như một giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cho tuyến tỉnh.

Chương trình đào tạo / Khảo sát Đối tượng / Quy mô Kết quả / Số liệu ghi nhận
Đào tạo vi sinh tại Bệnh viện Bạch Mai (2010 - 2014) Cán bộ y tế các tỉnh phía Bắc Tổng số 284 lượt (223 lượt từ ngân sách/dự án; 61 lượt từ nguồn khác)
Khảo sát đào tạo tại 9 bệnh viện tỉnh phía Bắc Bác sĩ lâm sàng 66,8% chưa từng tham gia tập huấn vi sinh lâm sàng; 33,2% đã tham gia
Khảo sát nhân lực vi sinh 6 BVĐK tỉnh (2010) Nhân viên phòng xét nghiệm Thiếu nhân lực; bác sĩ chỉ chiếm tỷ lệ 16,0%
Khảo sát an toàn sinh học TTYTDP tỉnh (2009) Phòng xét nghiệm vi sinh 55,2% đơn vị chưa được trang bị tủ an toàn sinh học
Khảo sát an toàn sinh học TTYTDP tỉnh (2015) Phòng xét nghiệm vi sinh 82,2% đơn vị có tủ an toàn sinh học phù hợp

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính triển khai tại 26 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Tác giả trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu chủ đích đối với 26 khoa/phòng xét nghiệm và chọn mẫu thuận tiện đối với 182 nhân viên xét nghiệm và 1012 bác sĩ lâm sàng.

Quy trình thu thập thông tin được chuẩn hóa qua 3 bộ công cụ: Phiếu khảo sát số 1 dành cho lãnh đạo khoa/phòng nhằm thu thập dữ liệu tổ chức, trang thiết bị, quy trình kỹ thuật; Phiếu số 2a dành cho nhân viên xét nghiệm đánh giá trình độ, chứng chỉ hành nghề, mức độ thành thạo kỹ thuật và đào tạo; Phiếu số 2b dành cho bác sĩ lâm sàng đánh giá tần suất chỉ định xét nghiệm, lý do ít chỉ định và nhu cầu đào tạo. Phương pháp phân tích dữ liệu kháng sinh đồ tự động được thực hiện dựa trên quy chuẩn kỹ thuật định danh, phân loại nhóm kháng sinh báo cáo A, B, C, O, U theo CLSI và chuẩn hóa dữ liệu bằng phần mềm WHONET. Chương này cũng thiết lập chặt chẽ các quy định về kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện thực chứng theo 3 nhóm nội dung chính:

  1. Năng lực xét nghiệm vi sinh của 26 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh:
  • Cơ cấu tổ chức và nhân lực: Phân tích thực trạng thành lập khoa vi sinh độc lập so với bộ phận vi sinh ghép trong khoa cận lâm sàng; số lượng nhân lực trung bình trên mỗi phòng xét nghiệm; cơ cấu trình độ (bác sĩ, cử nhân xét nghiệm, kỹ thuật viên trung cấp); tỷ lệ nhân viên có chứng chỉ hành nghề xét nghiệm vi sinh và thâm niên công tác.
  • Trang thiết bị và sinh phẩm: Tỷ lệ các bệnh viện sở hữu đủ danh mục 8 thiết bị thiết yếu (kính hiển vi, tủ an toàn sinh học, tủ ấm thường 35 - 37°C, máy cấy máu, tủ sấy, nồi hấp ướt, tủ ấm CO2, tủ ấm 25 - 30°C); thực trạng ghi chép bảng theo dõi hoạt động hàng ngày, công tác bảo dưỡng định kỳ và tỷ lệ thực hiện hiệu chuẩn thiết bị; danh mục các môi trường và sinh phẩm nuôi cấy được sử dụng.
  • Hoạt động chuyên môn và quản lý chất lượng: Tỷ lệ bệnh viện thực hiện thường quy các kỹ thuật nhuộm soi, nuôi cấy phân lập, định danh vi khuẩn và thử nghiệm tính nhạy cảm kháng sinh; mức độ ban hành và áp dụng quy trình thực hành chuẩn (SOP); tỷ lệ triển khai nội kiểm tra chất lượng và tham gia các chương trình ngoại kiểm quốc gia/quốc tế; mức độ tự đánh giá tính thành thạo kỹ thuật của nhân viên xét nghiệm; tổng hợp điểm đạt về năng lực thực hiện kỹ thuật và năng lực đảm bảo chất lượng theo thang đo chuẩn.
  1. Thực trạng kháng kháng sinh tại 2 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh:
  • Tỷ lệ phân bố các chủng vi khuẩn phân lập phổ biến: Các trực khuẩn Gram âm chiếm tỷ trọng chủ đạo bao gồm Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii, cùng các cầu khuẩn Gram dương như Staphylococcus aureus (bao gồm tỷ lệ phân lập MRSA) và Enterococcus spp.
  • Mức độ nhạy cảm và kháng thuốc của các chủng vi khuẩn đối với các nhóm kháng sinh chủ chốt (penicillin, cephalosporin thế hệ 3-4, aminoglycoside, fluoroquinolone, carbapenem, glycopeptide, polymyxin) theo hướng dẫn báo cáo của CLSI.
  1. Các yếu tố liên quan đến năng lực xét nghiệm và chỉ định của bác sĩ lâm sàng:
  • Thực hiện quy chế ngành y tế: Vai trò của nhân viên xét nghiệm trong Hội đồng thuốc và điều trị, việc thành lập Ban Quản lý sử dụng kháng sinh, công tác thiết lập hệ thống quản lý chất lượng và tỷ lệ có chứng chỉ quản lý chất lượng.
  • Công tác chia sẻ thông tin, đào tạo và nghiên cứu: Thực trạng gửi thông báo định kỳ về tình hình vi khuẩn và mức độ kháng thuốc từ phòng xét nghiệm tới các khoa lâm sàng; thời điểm cập nhật đào tạo liên tục gần nhất của nhân viên xét nghiệm; nhu cầu đào tạo vi sinh lâm sàng của bác sĩ; mức độ triển khai nghiên cứu khoa học và ứng dụng phần mềm WHONET trong lưu trữ, quản lý số liệu.
  • Phân tích hồi quy đa biến: Đánh giá mối tương quan và xác định các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến mức độ chỉ định xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn của bác sĩ lâm sàng (bao gồm các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân bác sĩ, năng lực đáp ứng của phòng xét nghiệm và các lý do chủ quan/khách quan dẫn đến việc ít chỉ định).

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung bàn luận chuyên sâu theo 3 chủ đề:

  • Bàn luận về năng lực thực tế của 26 phòng xét nghiệm vi sinh tuyến tỉnh, so sánh đối chiếu với các chuẩn mực quy định trong Thông tư số 25/2012/TT-BYT, Thông tư số 43/2013/TT-BYT, Thông tư số 33/2016/TT-BYT và Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt về nhân lực có trình độ sau đại học, tỷ lệ nhân viên chưa có chứng chỉ hành nghề, sự không