ĐẶT VẤN ĐỀ Kết quả xét nghiệm đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Muốn phát huy tối đa ý nghĩa và vai trò này thì kết quả xét nghiệm phải được đảm bảo chất lượng, vì vậy quản lý chất lượng xét nghiệm là một yêu cầu song hành không thể thiếu trong hoạt động xét nghiệm. Các yêu cầu này được quy định trong các văn bản pháp luật như thông tư 01/2013/TT-BYT ngày 11/01/2013 của Bộ Y tế về việc Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh-chữa bệnh (1), quyết định 2429/QĐ-BYT ngày 12/6/2017 của Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chí đánh giá mức chất lượng xét nghiệm y học (2), TCVN ISO 15189:2014 (ISO 15189:2012) Phòng thí nghiệm Y tế: Yêu cầu về chất lượng và năng lực (3). Tại Mỹ năm 2000, David Nevalainen của Viện Quản lý chất lượng Abbott là người đầu tiên nghiên cứu đánh giá chất lượng theo thang điểm Sigma.
Kết quả cho thấy sự cải tiến đáng kể chất lượng của Phòng Xét nghiệm (PXN) trên toàn bộ quy trình kiểm tra và cụ thể đặc trung cho từng xét nghiệm (4). Tại Việt Nam, năm 2017, khoa Sinh hóa Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu áp dụng thang điểm Sigma để đánh giá chất lượng xét nghiệm và kết quả đạt được là nhận được Chứng nhận đạt chuẩn xét nghiệm quốc tế. Việc áp dụng thang điểm Sigma giúp PXN đánh giá phân mức được hiệu năng của từng phương pháp xét nghiệm trên cơ sở đó PXN định hướng tập trung nguồn lực quản lý vào những xét nghiệm có hiệu năng thấp. Xét nghiệm nào đạt 6- Sigma là kết quả xuất sắc, 5-Sigma là rất tốt, 4-Sigma là tốt, 3-Sigma là kém và dưới 3-Sigma là kết quả không chấp nhận được.
Trên cơ sở thang điểm Sigma, PXN sẽ thực hiện quy trình nội kiểm mới dùng quy luật Westgard Sigma cho từng loại xét nghiệm. Giá trị Sigma chỉ ra bao nhiêu lỗi có thể xảy ra và xét nghiệm đó có thể ổn định trong điểm Sigma càng cao thì lỗi càng ít và quy tắc kiểm soát ít hơn. Các xét nghiệm có điểm Sigma thấp yêu cầu nhiều quy tắc kiểm soát và thêm nhiều phép đo nội kiểm hơn (5). Bên cạnh đó, để có thể tìm hiểu được các nguyên nhân dẫn đến các xét nghiệm có hiệu năng kém thì chỉ số mục tiêu chất lượng (QGI) sẽ là công cụ chỉ ra 2 lỗi nằm ở độ đúng hay độ lặp lại.
Khi các xét có điểm Sigma <4 sẽ thực hiện tính chỉ số mục tiêu QGI với QGI<0,8: xét nghiệm có vấn đề về độ lặp lại, QGI=0,8-1,2: xét nghiệm có vấn đề về độ lặp lại và độ đúng, QGI>1,2: xét nghiệm có vấn đề về độ đúng (6) nhằm hướng dẫn kỹ thuật viên xác định đúng vấn đề chất lượng còn tồn đọng tại PXN và thực hiện các biện pháp khắc phục - phòng ngừa. Khoa Hóa sinh, Bệnh viện Thanh Nhàn tiếp nhận và xử lý 700-800 mẫu bệnh phẩm xét nghiệm Hóa sinh hàng ngày. Nếu chất lượng xét nghiệm không được kiểm soát thì sẽ có nhiều kết quả xét nghiệm sai sót gây ảnh hưởng đến vấn đề điều trị và pháp lý đối với người bệnh. Chính vì vậy, khoa Hóa sinh, Bệnh viện Thanh Nhàn đã xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng từ nhiều năm nay, đặc biệt khoa đã đạt được Chứng chỉ Công nhận chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 15189:2014 (ISO 15189:2012) năm 2019, được Bộ Y tế đánh giá mức chất lượng xét nghiệm theo bộ tiêu chí 2429 đạt được 86% tương đương với mức 4 về xếp loại mức chất lượng nhưng chưa thực hiện quá trình đánh giá hiệu năng của phương pháp xét nghiệm.
Do vậy, chúng tôi mong muốn các kết quả xét nghiệm được kiểm soát chặt hơn và hạn chế tối thiểu các lỗi có thể xảy ra. Đứng trước nhu cầu mong muốn đảm bảo chất lượng xét nghiệm và xác định đúng hiệu năng của từng phương pháp xét nghiệm, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Kết quả can thiệp nâng cao chất lượng xét nghiệm Hóa sinh bằng công cụ Six Sigma và chỉ số mục tiêu chất lượng tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2022”. Xác định hiệu năng phương pháp của 10 chỉ số xét nghiệm Hóa sinh (Glucose, Urea, Creatinine, AST, ALT, GGT, Cholesterol, Uric, Protein, Albumin) trên thiết bị Roche Cobas 8000 C502 đã được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 1/2022 đến hết 3/2022 tại Bệnh viện Thanh Nhàn bằng công cụ Six Sigma và chỉ số mục tiêu chất lượng. Phân tích kết quả chất lượng xét nghiệm 10 chỉ số Hóa sinh (Glucose, Urea, Creatinine, AST, ALT, GGT, Cholesterol, Uric, Protein, Albumin) trên thiết bị Roche Cobas 8000 C502 sau khi áp dụng thang Sigma và chỉ số mục tiêu chất lượng trong kiểm tra chất lượng xét nghiệm từ tháng 5/2022 đến hết 6/2022 tại Bệnh viện Thanh Nhàn.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đảm bảo và kiểm tra chất lƣợng xét nghiệm 1.1 Chất lƣợng Trong tất cả các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ đều yêu cầu kết quả đầu ra đạt chất lượng. Riêng lĩnh vực y tế, yêu cầu chất lượng là vô cùng quan trọng vì chất lượng trong hoạt động y tế không chỉ liên quan đến bản thân sản phẩm được tạo ra mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sinh mạng người bệnh. Ngày nay, các cơ sở y tế đã nhận biết được tầm quan trọng của chất lượng, những cơ sở y tế khi thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc đảm bảo và kiểm soát/kiểm tra chất lượng sẽ mang lại cho người bệnh các kết quả tối ưu, tiết kiệm chi phí không chỉ của riêng người bệnh mà còn của xã hội, đặc biệt có những chi phí không thể tính toán bằng tiền được đó là sinh mạng hoặc sức khỏe của người bệnh, những sai lầm trong y khoa có thể gián tiếp hoặc trực tiếp tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo Joseph Juran, “Chất lượng là sự tương thích của sản phẩm hoặc dịch vụ đối với nhu cầu của người sử dụng” (7).
Theo William Edward Deming, “Chất lượng là một vòng quay không kết thúc của sự cải tiến liên tục” (7). Theo CDC (1986) “Chất lượng của một dịch vụ xét nghiệm phụ thuộc vào việc cung cấp toàn bộ các tính năng và đặc tính phù hợp với các nhu cầu được đặt ra hay được ngụ ý bởi người dùng hay khách hàng” (8) Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng, nhưng tựu chung lại thì chất lượng là mục tiêu mà người cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mong muốn tạo ra để đáp ứng và làm hài lòng người sử dụng hay khách hàng. Từ đó, chất lượng có thể được định nghĩa ngắn gọn hơn “chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu người sử dụng” (9). Như vậy, nếu một sản phẩm, dịch vụ y tế không đáp ứng được nhu cầu người sử dụng (có thể là người bệnh, bác sĩ hoặc các nhà nghiên cứu.) thì được xem là sản phẩm kém chất lượng, cho dù nó được tạo ra từ một cơ sở y tế với nhiều trang thiết bị hiện đại với nhiều chuyên gia y tế hàng đầu.
Đồng thời, chính vì chất 5 lượng được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu, mà yêu cầu luôn biến động theo thời gian, không gian và hoàn cảnh, nên chất lượng phải luôn được cải tiến. Vì vậy, định kỳ cần phải xem xét lại các chính sách chất lượng.2 Quản lý chất lƣợng Chất lượng được hình thành từ việc tác động của hàng loạt các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, muốn đạt được chất lượng mong muốn phải quản lý thật tốt và đúng đắn các yếu tố này, cần phải kết hợp kiến thức quản lý chất lượng, kỹ thuật, kinh nghiệm và sự am hiểu về lĩnh vực chuyên môn thì mới giải quyết được bài toán chất lượng tốt nhất. Quản lý chất lượng (Quality Management-QM) là một khoa học, nó là một phần của khoa học quản lý, được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đến y tế. QM đảm bảo cho tổ chức làm đúng những gì cần phải làm để tạo ra một sản phấm hoặc dịch vụ có chất lượng.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005 (TCVN ISO 9000:2007), định nghĩa về QM được hiểu là “Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” (10), được thực hiện bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm soát chất lượng, cải tiến chất lượng. Để hoạt động QM có hiệu quả, cần nghiên cứu xem xét mối tương quan và tác động của các yếu tố trong một quá trình. Mục đích là yêu cầu đầu vào (yêu cầu chẩn đoán và điều trị) sẽ được tổ chức tiếp nhận và xử lý để sản phẩm đầu ra (kết quả điều trị và chẩn đoán) đạt chất lượng, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng (người bệnh).1: Mô hình quản lý chất lƣợng dựa trên quá trình (11) Trong quá trình vận hành, thông qua việc đo lường, phân tích sẽ có những đề xuất cải tiến nhằm giúp cho sản phẩm tạo ra từ yêu cầu của khách hàng ngày càng đạt chất lượng cao hơn và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hơn. Vì vậy, cải tiến liên tục là một phần quan trọng khi thực hiện chất lượng (11).3 Đảm bảo chất lƣợng Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance - QA) là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được tiến hành trong hệ thống quản lý chất lượng.
Mục đích của QA là cung cấp cho khách hàng niềm tin rằng các yêu cầu chất lượng sẽ được thực hiện (khách hàng là cá nhân/đơn vị sử dụng dịch vụ xét nghiệm: bác sĩ lâm sàng, người bệnh, thân nhân của người bệnh, cơ quan y tế, đơn vị bảo hiểm y tế, các khoa/phòng có liên quan trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh). Một cách tổng quát, QA giúp giảm hay ngăn ngừa những vấn đề chưa đạt yêu cầu. Trong lĩnh vực xét nghiệm, QA đưa ra các biện pháp hạn chế và đề phòng sai sót nhằm tạo mọi điều kiện tối ưu để có kết quả xét nghiệm tin cậy và hạn chế tối đa những sai sót có thể xảy ra trong ba giai đoạn của quá trình xét nghiệm (trước xét nghiệm, trong xét nghiệm và sau xét nghiệm) (11). Công tác QA trong phòng xét 7 nghiệm (PXN) là nhiệm vụ không chỉ của các cán bộ xét nghiệm, mà cần có sự phối hợp thống nhất giữa lãnh đạo và toàn thế nhân viên PXN, cũng như giữa các khoa lâm sàng và PXN với tinh thần trách nhiệm cao.