ĐẶT VẤN ĐỀ Một đất nước muốn phát triển thì cẩn phải nắm bắt được tình hình nguồn nhân lực, trí lực của đất nước. Từ đó mới có được những chính sách tối ưu để bổi dưỡng, phát triển và có hướng đào tạo thích hợp. Nắm được tim quan trong của sự việc trên, Đảng và nhà nước ta cũng đã rất quan tâm đến việc phát hiện và béi dưỡng nhân tài. Như trong Nghị quyết Đại hội lan thứ 7 và 8 của Dang đã đưa ra “chiến lược con người” và đặt ở vi trí cực ki quan trọng, có tính quyết định của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Vì vậy, giáo dục - đào tạo đã trở thành quốc sách hang đầu nhằm nâng cao dan trí, đào tạo nhân lực, béi dưỡng nhẫn tài. Trong chỉ thị số 26/CT của bộ Giáo dục-Đào tạo có nêu “ thông qua việc truyền thụ kiến thức mà béi dưỡng tư tưởng, tình cảm, phát huy được trí thông minh, xây dựng được phương pháp suy nghĩ, coi đó là những yêu cầu rất cd bản của trí dục.” Xuất phát từ tam quan trọng của vấn để trí tuệ và phát triển trí tuệ trong công tác giáo dục nói riêng và trong sự phát triển của đất nước nói chung, chúng tôi chọn để tài “Tìm hiểu năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường Đại học tại thành phố Hé Chí Minh”. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 5 TONG QUAN TÀI LIÊU Lệ Thị Minh Thi PHẦN I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU. 1) Lịch sử hình thành khái niệm: a) Các tư tưởng đầu tiên: Trong gần hơn hai ngàn năm, ít ra là từ khi ra đời Nhà nước - thành bang Hi Lạp, đã có cả một hệ thống tư tưởng thống trị những cuộc tranh luận về than phận con người trong nén văn minh của chúng ta.
Hệ thống tư tưởng này nhấn mạnh vào sự tổn tại và tầm quan trọng của những năng lực tinh than - những khả năng đã từng được gọi tên khác nhau như tinh duy It, trí thông mình, hoặc sự md mang của "cái đầu". Cuộc tìm tồi không đứt về bản chất của con người, dường như không tránh khỏi, đã dẫn đến sự tập trung tiêu điểm vào cuộc kiếm tìm tri thức của loài người chúng ta; và những khả năng nào hiện ra thành những hiểu biết thì đều được đánh giá cao. Cái năng lực tinh than ấy, lúc bấy giờ chưa được hiểu về bản chất, đã được ám chỉ một cách mơ hổ, thấp thoáng trong các câu nói nổi tiếng như: của Socrates “Hay tu mình biết lấy”, của Aristotle “Moi con người về bản chất déu có nguyện vọng hiểu biết”, và của Descartes “Tôi tư duy, vậy là tôi tốn tại”. Ngay cả trong nghìn năm tăm tối giữa thời cổ đại và thời Phục hưng, hướng đi lên của các nhân tố trí tuệ cũng hiếm khi bi sự hổ nghỉ cưỡng lại.
Đầu thời Trung cổ, Saint Augustine, người cha đích thực của niém tin tôn giáo, đã tuyên bố: "Tác gia đích thực và người thúc đẩy vũ trụ là tri khôn. Do đó, mục đích cuối cùng của vũ trụ là thúc đẩy trí khôn và đó chính là lẽ phải. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 6 TỔNG QUAN TÀI LIÊU Lê Thị Minh Thi Đến cao điểm của thời Trung cổ, Dante đã đưa ra cách nhìn: “Chức năng đích thực của giống người g6p chung lại là liên tục thể hiện toàn bộ năng lực có thể có cho /rí tuệ, trước hết trong suy luận rỗi sau đó là trong phát triển suy luận vì lợi ích của nó, thứ mới đến hành động ". Nhìn chung, trong thời cổ đại, người ta chưa có định nghĩa rõ rằng về “Tri tuệ ”, chi phần biệt các bộ phận riêng biệt của tinh than gém lí trí, ý chí và tình cảm.
Trong thời Trung cổ có bộ ba: ngữ pháp, logic và tu từ; và bộ tứ: toán học, hình học, thiên van và 4m nhạc. b) Các tư tưởng hiện đại: Khi khoa Tâm lí học bung ra thì người ta cũng tìm được một đội ngũ lớn hơn nữa các năng lực tinh thần của con người (Franz Joseph Gall kể ra 37 năng lực tinh than, J. Guilford ngả vé 120 vecto của tinh than con người). [I6] Thế ki XX, một tiểu thuyết gia người Anh, Aldous Huxley, đã nói rằng trẻ em đáng chú ý nhất là tính tò mò và trí tuệ.
Vậy trí tuệ là gi? Trí tuệ là một trong những tài sản sở hữu ưu tú nhất của mỗi người. Không giống như chiéu cao, trọng lượng và tuổi tác, trí tuệ không thể được đo đạc một cách trực tiếp. Chúng ta không thể nhìn chăm chú vào đầu của một sinh viên và quan sắt trí tuệ từ từ đi vào trong đó được. Chúng ta chỉ có thể đánh giá trí tuệ của một sinh viên một cách gián tiếp thông qua việc nghiên cứu những hoạt động trí tuệ của sinh viên ấy.
Phan lớn, chúng ta đều dựa vào những bài trắc nghiệm trí tuệ để đánh giá( Kail & Pelligrino, 1985). LUAN VAN TOT NGHIEP 7 TT T0 1072172171 es Theo từ điển Từ va Ngữ Việt Nam [6| thi Tri tuệ là óc thông minh hiểu biết, Trí khôn là khả năng hiểu biết. Một số chuyên gia đã mô tả rằng: trí tuệ bao pm khả năng về ngôn ngữ (verbal ability) và kĩ năng giải quyết vấn để (problem solving skill). Một số khác lại cho rằng đó là khả năng thích ứng và học hỏi từ những kinh nghiệm hằng ngày (life`'s everyday experiences).
Kết hợp những ý kiến trên, chúng ta có thể đi đến một định nghĩa truyén thống xác đắng về trí tuệ: là khả năng về ngôn ngữ, kĩ năng giải quyết vấn dé và khả năng thích ứng và học hdi từ những kinh nghiệm hãng ngày. | [7] Tuy nhiên, định nghĩa quá khái quát này không làm thỏa mãn mọi người. Một số nhà lí luận cho rằng khả năng vé âm nhạc cũng là một phan của trí tuệ. Và một nhà lí luận đã dựa trên cơ sở học thuyết của Vygotsky là phải bao gom khả năng sử dụng những dung cụ văn hoá với sự trợ giúp của các vật dụng riêng lẻ có nhiều kĩ xảo.
Bởi vì trí tuệ là một khái niệm rộng và trừu tượng nên cũng không ngạc nhiên khi có nhiều định nghĩa về nó. Tuy vậy, để có một khái niệm thống nhất và tổng quát, chúng ta có thể dùng quan điểm mới về tri tuệ của Wechsler: ø Trí tuệ là một tổng thể của nhiều đơn vị chức năng trí tuệ, song không phải đơn thuần là tổng số các khả năng, mà là kết quả của sự phối hợp các khả năng đó. s Các chức năng này khác nhau và có thể đo được. Do đó có thể đo trí tuệ bằng cách đo các đơn vị chức năng này hoặc đo sự phối hợp của chúng.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 8 TONG QUAN TÀI LIỆU Lê Thi Minh Thi ® Trí tuệ của cá nhân phụ thuộc vào các diéu kiện văn hoá xã hội, nơi cá nhân đó sinh ra và lớn lên. Do đó, chỉ số thông minh của cá nhãn chỉ có ý nghĩa khi so sánh với các cá nhân khác. 2) Thuyết nhiễu dang trí khôn (MI: multiple intelligences): Những nim gan day, các sách có uy tín lớn của R. Sternberg và Howard Gardner déu chứng minh rằng trí tuệ rất phức tạp, có nhiều dang (multiple intelligences).
[17] a) Các quan điểm đầu tiên: ' Binet và Stern đều tập trung vào khái niệm trí tuệ tổng hợp, được Stern gọi là 1Q. Wechsler thì cho rằng có thể mô tả cả hai loại: Một loại là trí tuệ tổng hợp và một loại là trí tuệ dùng lời và thực thi đặc trưng. Ông đã xây dựng ý tưởng này dựa trên quan điểm của Charles Spearman (1927), rằng con người có cả trí tuệ tổng hợp, gọi là g (general), và các loại trí tuệ đặc trưng khác, gọi là z (specific). Đến đầu những năm 1930, L.Thurstone nói rằng con người có 7 khả năng đặc biệt: Sự lĩnh hội ngôn ngữ, kha năng làm việc với con số, dùng từ trôi chảy, sự mường tượng không gian, trí nhớ tiên tưởng, khả năng lập luận, và tốc độ lĩnh hội.
b) Quan điểm của Sternberg: Theo Sternberg (Triarchic theory of intelligence, 1986), trí tuệ tổn tại dưới ba dạng: Kha năng phân tích, khả năng sắng tao và khả năng hành động. Một số người phát triển tốt cả ba khả năng, số khác chỉ tốt ở LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 9 TONG QUAN TÀI LIEU _ Lé Thi Minh Thi một hoặc hai. Chính vi thế, những học sinh khác nhau sẽ biểu hiện khác nhau về khả năng trong các lĩnh vực khác nhau ở trường học. c) Quan điểm của Howard Gardner: Theo Gardner [16], có 8 loại trí tuệ: Trí tuệ ngỗn ngữ, trí tuệ lỗpïc- toán, trí tuệ Am nhạc, trí tuệ về không gian, trí tuệ - tri giác cơ thể ở dạng vận động, trí tuệ cá nhân (gỗm khả năng nhận thức bản than và khả nang nhận thức người hay sự vật hiện tượng khác) và trí tuệ về thiên nhiên.
Cốt lõi của thuyết nhiễu dạng trí khôn là sự thừa nhận nhiều thành phan trí tuệ (trí khôn) trong một hoặc những năng lực người. Những dang trí tuệ khác nhau đó không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người. Một dang kĩ năng kĩ xảo của con người có khi không huy động hết mọi dạng trí tuệ đó, Hệ quả giáo dục khi vận dụng thuyết MI đó ra sao? Một con người phát huy được một hoặc nhiễu thành phần trí tuệ thì có thể đạt tới nhiễu thành tựu trong cuộc sống. Thiếu đi một dạng trí khôn, con người vẫn có thành tựu không thấp, Ví dụ chỉ với trí tuệ logic - toán, con người có thể đi xa trong lĩnh vực này.
Nhưng với thành tựu cao đó, nếu con người còn có thêm dạng trí tuệ cá nhân, với hai thành phan nội hướng và ngoại hướng, thì con người ấy còn có cơ may thể hiện mình hoàn chỉnh hơn nhiều. Mặt khác, trên cương vị nhà giáo duc thực hành (bậc mẹ cha cũng như nhà giáo chuyên nghiệp) ta cin thấy thé mạnh từng dạng trí khôn trong từng cá nhân, để không đồi hỏi hơn cái cá nhân đó có thể có, và để “đỡ dé” cho năng lực của cá nhân chịu tác động giáo dục kia bộc lộ hết cỡ. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 10 TONG QUAN TÀI LIEU Lé Thi Minh Thi Các ý kiến chống đối lại thuyết này cho rằng trí tuệ về âm nhạc là một loại chính là không có cơ sở, vì còn nhiễu phạm vi khác tương tự lại không được phân loại. Ví dụ như khả năng đánh cờ, làm thơ, làm chính trị, luật sư.