Đặt vấn đề Càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò và vị trí của con người ngày càng được đánh giá cao và trong tổng thể chung đó trí tuệ của con người là nhân tố quan trọng nhất. Đầu thời Trung Cổ. Saint Augustine, người cha của niém tin tôn giáo đã tuyên bố:”Tác giả đích thực và người thúc đẩy vũ trụ là trí khôn, do đó mục đích cuối cùng của vũ trụ là thúc đẩy trí khôn. và đó là lẻ phải"[ 10].
Ở nước ta, với nghị quyết Đại Hội VII — VIII của Dang đã đưa ra "chiến lược con người", coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng dau, đặc biệt là chỉ thị 26/CT Bộ Giáo Dục - Đào tạo:"Thông qua việc truyền thụ kiến thức mà bồi đưỡng tư tưởng, tình cảm, phát huy được trí thông minh, xây dựng được phương pháp suy nghĩ, coi đó là yếu tố rất cơ bản của trí dục". Phát triển trí tuệ xét về mặt cá nhân và xã hội là việc của cả một đời người, đòi hỏi cả một thời gian dài và không gian rộng, là kết quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục không chỉ ở nhà trường mà còn ở ngoài xã hội. Tuy nhiên việc học tập ở nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng, có liên quan mật thiết với việc hình thành một nền tảng các năng lực quan trọng nhất cho sự phát triển trí tuệ. Và để nâng cao hiệu quả giáo dục không gì quan trọng hơn việc đào tạo ra một đội ngũ các cán bộ giảng dạy có chất lượng cao.
Việc nghiên cứu một cách định lượng trí tuệ của con người nói chung, và của sinh viên Sư Phạm nói riêng, sẽ góp phan tạo nên cơ sở để tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả giảng day và học tập, phát huy tiểm năng của người học. Trước đây việc đánh giá khả năng trí tuệ của học sinh - sinh viên thường chỉ thông qua kết quả học tập trên lớp, cụ thể là qua điểm số. Cách đánh giá SVTH: LÂM THỤY ANH THƯ Trang 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRAN THỊ CÚC này không hoàn toàn chính xác.
Cùng với sự phát triển của tâm lý học, các biện pháp đo lường và đánh giá năng lực trí tuệ ngày càng phát triển, việc nghiên cứu trí tuệ ngày càng được quan tâm nhiều hơn và ngày càng chứng tỏ ý nghĩa thực tiễn to lớn. Trước thực tế đó chúng tôi đã chọn để tài "Tim hiểu năng lực trí tuệ của sinh viên các ngành khoa học tự nhiên của trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh “. SVTH: LÂM THỤY ANH THƯ Trang 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRẦN THỊ CÚC PHAN I :TONG QUAN TÀI LIEU L Nang lực trí tuệ.
Từ thế kỷ V-IV TCN các triết gia kinh điển như Socrate, Platon và Aristolte đã bất đầu có các cuộc đối thoại về trí tuệ. Vấn để trí tuệ là một trong rất ít lĩnh vực được để cập ngay từ những ngày khai sinh của tâm lý học, không thể đề cập đến tất cả các thành tựu đã đạt được, vì vậy ở đây ta chỉ xem xét một số quan điểm trong lịch sử nghiên cứu về trí tuệ. Lịch sử nghiên cứu. Van để trí tuệ trong truyền thống văn hóa Phương Đông cổ đại : - _ Trong Phật giáo: cho rằng có 2 mức nhận thức: © Tri thức: nhận thức các biểu hiện của quy luật (tri kiến).
® Trí tuệ: nhận thức bản chất của các quy luật tức "biết” các quy luật vĩnh hằng của vũ trụ. "Biết" không đơn thuần là sự hiểu biết thông thường như quan niệm hiện đại mà là quá trình chuyển từ trạng thái vô minh sang trạng thái giác ngộ. từ loại người này sang loại người khác. Để đạt được trình độ này, con người phải tu luyện tham thiển [24].
- Trong đạo giáo: Theo Mạnh Tử "trí" là bẩm sinh, cái ta sẳn có, nguồn gốc của trí là lòng phải chăng. Trí không những phải là trí thông minh mà còn là tâm trí, là tấm lòng biết cân nhắc, biết suy xét. Còn theo Tuân Tử cái biết trong con người được gọi là tri, trí mà hợp với cái bên ngoài gọi là trí, nguồn gốc của trí tuệ là sự hòa hợp giữa nội tâm và hiện thực bên ngoài [24].Vấn dé trí tuệ trong truyền thống triết học Phương Tây: Từ thời Platon trí tuệ được chia thành 2 mức : tri tuệ cảm tính và trí tuệ lý tính. SVTH: LÂM THỤY ANH THƯ Trang 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
TRAN THỊ CÚC Các nhà triết hoc cổ điển Đức, điển hình là G.Hêghen (1770 - 1831 ) đã chia trí tuệ thành 3 mức: cảm tính, lý trí và lý tính, đồng thời xác lập sự chuyển hóa biện chứng giữa lý trí lên lý tính trong nhận thức của con người. Trong nhận thức luận của R.Descartes cho rằng có 2 loại trực giác (intuisia): trực giác cảm tính và trực giác lý tính. Trong đó ông để cao trực giác lý tính, coi đó là khả năng nhận thức cao nhất của trí tuệ con người [24]. Các hướng nghiên cứu trí tuệ trong tâm lý học: có 8 hướng 1.
Huéng tiếp cận liên tưởng của trường phái tâm lý học Anh: Đại biểu của hướng tiếp cận này là những nhà triết học, tâm lý học Anh: B. Ho cho rằng tư day là sự liên tưởng các biểu tượng. Sự phát triển tri tuệ là quá trình tích ly các mối liên tưởng. Sự khác biệt về trình độ trí tuệ được quy về số lượng các mối liên tưởng, về tốc độ hoạt hóa các liên tưởng đó [24].
Hướng tiếp cận hành động tinh thần của trường phái tâm lý học Wurzbourg. Dai biểu : các nhà tam lý học Đức O.Buhler (1897 — 1963): nghiên cứu tư đuy, trí tuệ thông qua thực nghiệm giải toán tư duy, phương pháp chủ yếu là tự quan sát. Các công trình của Denxơ chỉ ra rằng thực chất của quá trình tư duy là sự vận hành các thao tác trí tuệ để giải quyết bài toán tu duy, điều này đã khắc phục nhược điểm các quan niệm giản đơn của thuyết liên tưởng [24].Hướng tiếp cận hành vi : có 2 thuyết SVTH: LÂM THỤY ANH THƯ Trang 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRAN THỊ CÚC Đại biểu là các nhà tâm lý học kiệt xuất: J.
họ cho rằng tâm lý chỉ la các dạng hành vi khác nhau. Phương pháp của các nhà tâm lý học là quan sát khác quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể khi có tác nhân kích thích, coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, để cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo các phản ứng.Watson: hành ví trí tuệ được đông nhất với ngôn ngữ bên trong, là các phản ứng có hiệu quả mà chủ thể học được nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống. Tư duy giống như kỳ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập chúng |24]. Ông cho rằng có khả năng tao ra những con người mong muốn từ bất kỳ đứa trẻ nào bằng các tác động của môi trường xã hội (tác phẩm Học Thuyết ứng xử, J.
Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J.Watson đã phân hoá trường phái này thành 3 nhánh : - Tâm lý hoc hành vi bảo thủ : ¿huyết $-R ( Kích thích [slimulant]> phan ứng [reaction ]): trung thành với luận điểm của J. Watson, người sáng lập ra thuyết hành vi về hình thành hệ thống kích thích từ đó tạo ra hệ thống hành vi tương ứng của cá nhân. Đại điện tiêu biểu là S. Thuyết này cho rằng các phản ứng bên ngoài là nhân tố phát động một hành vi, kết quả học tập là kỷ xảo và phương thức thích ứng là "thử và sai” [24] - Tâm lý hoc hành vi khách quan: Dai biểu là E.Tolman, thuyết hành vi mới của E.Tolman cho rằng có các " biến số trung gian” xen giữa các kích thích tác động lên cơ thể và hành vi trả lời |2 I |.
SVTH: LAM THUY ANH THU Trang 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRAN THỊ CUC - Tâm lý học hành vi chủ quan: Thuyết Tote (Thử [Test] - thao tác [Operate] — thử [Test] = thoát ra [Exit]), ra đời ở Mỹ những năm 1960, mục tiêu là phân tích hành vi cá nhân, tìm ra mô hình cấu trúc bên trong của nó theo lý thuyết điều khiển. Theo thuyết này các quá trình ở trung ương thần kinh, trí nhớ, tâm thế. chính là các nhân tố phát động đồng thời những kinh nghiệm và wi thức đã có về hành vi quy định chất lượng hành vi ứng xử [21].
Tuy nhiều luận điểm của các nhà tâm lý học hành vi không còn phù hợp với sự phát triển của tâm lý học hiện đại nhưng cách tiếp cận này đã đưa tính chặt chẻ khoa học, khách quan vào việc nghiên cứu trí tuệ con người [24].4, Hướng tiếp cận sinh học + Nghiên cứu cơ sở sinh lý - thần kinh của trí tuệ : Nổi bật nhất trong lĩnh vực này là các nghiên cứu về phản xạ và về quy luật hoạt động thần kinh cấp cao của I.Pavlov, các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao ở người là cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ. Ngoài ra còn có các công trình khác theo hướng hình thành lý thuyết về định khu chức năng của não bộ. Từ trước thế kỷ XIX đã xuất hiện ý tưởng liên kết não với chức năng tỉnh thần và theo hướng đó với ý định khám phá nguồn gốc cơ thể của chức năng tinh than: với người Ai Cập thì ý nghĩ la ở tim, phán đoán ở đâu hay thận, nhưng Hypocrate cho rằng não là cơ quan của cảm giác và ý thức, còn Pythagoras và Platon thì lại cho rằng tri tuệ là ở trong não. Năm 1828, Franz Joseph Gall đưa ra "Thuyết sọ não” và sáng lập "So não học”: so người này khác sọ người kia và sự khác nhau giữa chúng SVTH: LÂM THỤY ANH THƯ Trang 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
TRẦN THỊ CÚC phản ánh sự khác nhau vé khối lượng và hình thù của não, bằng cách xem xét kỹ hình thù hộp sọ của một con người, một chuyên gia có thể xác định chổ mạnh, chổ yếu và đặc tính tư chất của người đó [1]. Tuy nhiên bản thân kích thước và hình thù hộp sọ cho thấy sự đo đạc không chính xác những cấu hình quan trọng của vỏ não và độ lớn của não không có mối quan hệ rõ rệt với trí tuệ cá nhân, như nhà thơ Watt Whitman và nhà văn Anatole France đều là những người có bộ não rất bé nhưng đều có những thành tựu to lớn [10]. Nhà phẩu thuật và nhân chủng học Pháp Pierre Paul Broca năm 1861 đã phát hiện ra vùng tiếng nói.