KX 05 - 06 Trần Trọng Thuỷ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ VÀ CHỈ SỐ IQ Hà Nội, 2002 MỤC LỤC Trang I. Khái niệm về trí tuệ (hay trí thông minh) 1 1. Lịch sử thuật ngữ 1 2. Định nghĩa trí tuệ 3 II.
Các lý thuyết về trí tuệ 7 1. Các lý thuyết đơn trí tuệ hay là các thuyết phân tích nhân tố về trí tuệ 7 1. Thuyết của Spearman về trí tuệ chung 7 1. Thuyết về các năng lực trí tuệ nguyên thuỷ của Thurstone 8 1.
Thuyết của Guilford về cấu trúc trí tuệ 9 1. Thuyết hai nhân tố của trí tuệ của Horn và Cattell 10 1. Mô hình thứ bậc các năng lực trí tuệ của Vernon 11 2. Các thuyết đa trí tuệ 13 2.
Thuyết ba nhân tố về trí tụê của Sternberg 13 2. Thuyết đa trí tuệ của Gardner 15 2. Thuyết trí tuệ cảm xúc 19 III. Vấn đề đo lường trí tuệ và chỉ số IQ 27 1.
Lịch sử đo lường trí tuệ 27 2. Các khái niệm cơ bản về trắc nghiệm trí tuệ 32 3. Những vấn đề tranh luận trong việc trắc nghiệm IQ và sự giải quyết những vấn đề đó 34 IV. Vấn đề làm tăng cường trí tuệ của con người 45 Tài liệu tham khảo 49 1 Vấn đề trí tuệ (hay trí thông minh) hiện đang là vấn đề được tranh luận sôi nổi trong tâm lý học.
Có nhiều khuynh hướng và trường phái khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề bản chất và các con đường nghiên cứu trí tuệ bằng thực nghiệm. Theo Kail và Pellegrino(1985) thì có 2 lý do tạo nên điều này: thứ nhất, có nhiều cách để phân tích cùng một số liệu; thứ hai, các số liệu thu được trong các nghiên cứu riêng rẽ là khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà người ta ngày càng quan tâm đến vấn đề trí tuệ.Việc giải quyết thành công các vấn đề bản chất và các con đường đo lường trí tuệ một cách phù hợp sẽ kéo theo sự tiến bộ và phát triển của một loạt các khoa học về con người, và sẽ có một giá trị thực tiễn to lớn, nhất là trong thời đại thông tin, thời đại kinh tế tri thức và thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Sự hiện diện của Viện nghiên cứu quốc tế về trí tuệ ứng dụng tại Đan Mạch (International Institute of Applied Intelligence) đã nói lên điều đó.
Ngày nay, hoàn toàn có căn cứ để nói rằng, vấn đề trí tuệ(trí thông minh) là một vấn đề liên ngành, phức hợp. ở đây đòi hỏi phải có sự nỗ lực của các nhà tâm lý học và tâm thần học, các nhà sinh lý học và điểu khiển học, các nhà sinh học và toán học. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu tâm lý học vẫn giữ vai trò đặc biệt, vì ở đó biểu tượng về bản chất của trí thông minh được nghiên cứu và trên cơ sở đó các phương pháp đo lường được đề ra. Khái niệm về trí tuệ (hay trí thông minh) 1.
Lịch sử thuật ngữ Thuật ngữ “intelligence” (“trí tuệ” , “trí thông minh”) ngày nay trở nên rất thông dụng, đã từng là một thuật ngữ hoàn toàn không hiểu được trong ngôn ngữ hàng ngày một thế kỷ trước đây(Aiken L. Chắc chắn các nhà triết học cổ 2 Hy Lạp như Plato, Aristotle và các nhà học giả Trung cổ như Thomas Aquinas đã tham khảo tập hợp từ tương đương “mental faculty”(năng lực tâm trí). Nhà thần học Thomas Aquinas(1225-1274) đã mô tả “intelligence” như là năng lực khám phá ra những sự giống nhau và những sự khác nhau giữa các sự vật và do đó là năng lực hợp nhất và tách biệt chúng. Nhưng không phải mãi đến sau năm 1850 thì việc nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm về trí tuệ mới bắt đầu (“Intelligence”, 1983).
Vào thời gian này nhà triết học người Anh Herbert Spencer(1820-1903) và nhà khoa học cũng người Anh khác là Francis Galton (1822-1911) đã bắt đầu dùng thuật ngữ có nguồn gốc Latinh Intelligence trong các bài viết của mình để chỉ những khác biệt cá nhân về năng lực tâm trí (mental ability). Hai ông và những người kế tục đã tin rằng có sự tồn tại trong con người một trình độ bẩm sinh của trí tuệ chung (General intelligence), nó phân biệt với các năng lực riêng (Special intelligences). Khác với Spencer, Galton không thoả mãn với việc triết lý về bản chất của Intelligence. Ông đã cố gắng giải thích cơ sở di truyền của nó bằng việc nghiên cứu các cây gia hệ (gia phả), và ông đã xây dựng một vài trắc nghiệm về sự phân biệt cảm giác và về thời gian phản ứng mà ông hy vọng chúng sẽ đo được các thành phần của trí tuệ (intelligence).
Các trắc nghiệm này và các trắc nghiệm về cảm giác vận động khác (các phép đo tốc độ vận động, lực cơ, độ nhạy cảm đau, sự phân biệt trọng lượng.v…) đã được học trò của ông- nhà tâm lý học Mỹ J. Cattell- nghiên cứu một cách rộng rãi, nhưng chúng đã chứng tỏ là những cái dự báo (predictors) tương đối kém về các kỹ năng trong công việc nhà trường và về các nhiệm vụ khác đoán chứng đòi hỏi phải có trí tuệ. Định nghĩa trí tuệ 3 Muốn nghiên cứu và đo lường trí tuệ thì cần phải đưa ra một định nghĩa, dù là định nghĩa để làm việc (working definition). Nói cách khác, là phải xác định được bản chất của trí tuệ.
Điều này không phải là dễ dàng. Các chuyên gia đã từng không nhất trí với nhau trong lịch sử nghiên cứu về bản chất của trí tuệ. Vào những năm 1920, một số chuyên gia đã được yêu cầu định nghĩa về trí tuệ và họ đã cung cấp một loạt khá nhiều các định nghĩa. Sáu mươi lăm năm sau, một nhóm chuyên gia khác lại được hỏi cũng câu hỏi như vậy, và cũng lại thu được một loạt các câu trả lời khác nhau như vậy (Sternberg & Detterman, 1986; Sternberg & Powell, 1982).
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí tuệ (trí thông minh). Một cách chung nhất, có thể nói có 2 xu hướng: giải thích trí tụê quá rộng như là sự thích ứng nói chung hoặc thu hẹp khái niệm trí tuệ vào các quá trình tư duy. Trong vô số các định nghĩa về trí tuệ có thể thấy rõ có 3 loại (Freeman F. Coi trí tuệ là năng lực học tập.
Coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng 3. Coi trí tuệ là năng lực thích ứng. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng: có một mối liên hệ giữa trí tuệ và sự học tập nhưng chúng không đồng nhất với nhau. Chẳng hạn những công trình nghiên cứu trên sinh viên của trường đại học tổng hợp Kiev cho thấy rằng: trong số những sinh viên học yếu có cả những người có chỉ số cao về mức độ trí tuệ.
Điều này có thể giải thích bằng sự thiếu động cơ học tập. Kiểu định nghĩa thứ 2 hiểu trí tuệ là năng lực phát triển tư duy trừu tượng (Terman L, 1937). Theo cách hiểu như vậy thì chức năng của trí tuệ là sử dụng có 4 hiệu quả các khái niệm và tượng trưng (ký hiệu). Quan điểm này đã thu hẹp cả khái niệm, lẫn phạm vi thể hiện của trí tuệ.
Kiểu định nghĩa trí tuệ thông qua hoạt động thích nghi là kiểu định nghĩa phổ biến nhất và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành nhất. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, vì không thể định nghĩa khái niệm trí tuệ bên ngoài sự tác động qua lại của cá nhân với môi trường xung quanh được. Tuy nhiên, sự tác động qua lại đó phải được xem xét như là một sự thích ứng tích cực, có hiệu quả, chứ không phải như là sự thích nghi đơn giản. Các quan điểm cơ bản trên đây đối với việc định nghĩa trí tuệ không loại trừ lẫn nhau.
Mỗi quan điểm trên đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó được cho là quan trọng nhất. Rõ ràng là không một định nghĩa nào trong các định nghĩa trên chứa đựng được hết bản chất của cái hiện tượng phức tạp như trí tuệ của con người. Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khi nghiên cứu trí thông minh của con người, các nhà tâm lí học Xô Viết đã chú ý những vấn đề lý luận và phương pháp luận sau đây: a. Tính độc lập tương đối của trí tuệ và xúc cảm đối với các thuộc tính khác của nhân cách.
Sự hình thành và thể hiện của trí tuệ trong hoạt động. Tính quy định (chế ước) của những điều kiện văn hoá - lịch sử đối với những thể hiện của trí tuệ. Chức năng thích ứng tích cực của trí tuệ. Theo lập trường trên, Blaykhe V.
(1978) đã đưa ra định nghĩa sau đây về trí tuệ: “Trí tuệ- đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá- lịch sử quy định và chủ yếu bảo đảm cho sự tác 5 động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy”. Trong quá trình nghiên cứu trí tuệ, một câu hỏi đã được đặt ra là: Liệu trí tuệ có một đặc điểm chung nào có ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của hành vi, hay liệu có những loại trí tuệ khác nhau mà mỗi loại có ảnh hưởng đến một mặt riêng của hành vi hay không? Ngày nay các nhà nghiên cứu về trí tuệ có xu hướng cho rằng có nhiều loại trí tuệ. Chẳng hạn, người ta quan tâm đến một công trình nghiên cứu những người đàn ông đã dùng nhiều thời gian tiêu khiển của mình tại các trường đua để cá cược trong các cuộc đua ngựa. Các kết quả của nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng: năng lực của những người đàn ông này đối với việc chấp trong các cuộc đua không hề có liên quan một cách đáng kể với các điểm số của họ trong một trắc nghiệm về trí tuệ chung (general intelligence), mà nó chỉ ra rằng việc chấp trong các cuộc đua ngựa liên quan đến một loại năng lực trí tuệ riêng (Ceci và Liker, 1986).
Như vậy, một người có thể kém về loại trí tuệ này, nhưng lại xuất sắc trong loại trí tuệ khác. Từ năm 1990, người ta bắt đầu nói đến một loại trí tuệ mới- “Trí tuệ xúc cảm” (Peter Salovey và John Mayer, 1990; Daniel Goleman, 1995…). Thì ra là, lâu nay chúng ta đã cường điệu giá trị và tầm quan trọng của lý trí thuần tuý được đo bằng IQ trong đời sống con người. Trí tuệ xúc cảm cũng quan trọng như IQ.