Chương I: Năng lực trí tuệ và kết quả học tập. BD Chương IIL: Năng lực trí tuệ va miới tính. 58 Trang 2 luda Yan Toft Ñghiệp fa Thy Thabo Feary Chương IV: Năng lực trí tuệ và quy m6 giá đình. 2 PHAN IV: KẾT LUẬN VÀ BE NGHỊ.
Le ee eer een eee er seis eer eer oper errr eee 7Í 2S HGH cence rinnniorlatbitBinDIEGEDEASCEESGEGISSDNIINIAENGIBGISIDSEIRR 7] Tài liệu tham khảo |. ceeccessceereeeeeeeeererecteesesuecee ROPE TIỆC ner Teco UT vể, Luận Yan Tot Nghiệp He (đáy ‘Thal 2/lanng MAT VAN DE Đã từ lầu con người luôn dat ra cho mình cau hỏi mình là ar Minh có vị thể như thé nào trong xã hội này? Và mình có được những năng lực gì? Tất cả những câu trả lời đó được con người luôn tìm kiếm và tìm cách do đạc nó, Trí tuệ chi dao mọi hoạt động của con người, Năng lực tri tuệ có liên quan đến hoat dong nhận thức và hoạt động thực tiến, Vì vậy, việc nghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ cùng các yếu tô quanh nó có Ý nghĩa thực ten lửn. Ngày này, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cùng với hàng loạt hoại động giáo dục, vui chơi giải trí, văn hóa thể thao. luôn đòi hỏi con người ta phải động não, biết rong hơn khiến [Q của con người ngiy càng được nẵng cao rõ rệt.
Ở một số nước thì chỉ số 1Q còn được xem là mỗi trong những chỉ tiêu để tuyển nhân lực. Riệng ở Việt Nam, Đăng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến việc nhất hiện và bồi dưỡng nhân tài. Trong nghị quyết của Dai hội lần VI, VII của Đăng thi vấn để "chiến lược con người” được xem là một vấn để có tính chất cực kỹ quan trong trong phát triển đất nước. Vì vậy, Dang và Nhà nước ta đã xem giáo dục - dao tạo là "quốc sách hang dau" nhằm năng cau dan trí, đào tạo nhân lực, boi dưỡng nhân tài.
Muốn thực hiện tối "chiến lược con người” thi việc nghiên cứu, khảo sát kha năng trí tué của con người nói chung và học sinh nói riêng là vấn để hết sức ý nghĩa. Theo Piaget thi trí thông minh chính là một đặc điểm thích nghĩ [LT|. Trong thời đại Trang + Luận Yan Tot Aghi¢p Mật Alig .J ác “Fiero thông tin là quyền lực như hiện nay thì mục tiêu giảng dạy hiện nay mà Bảng và Nhà nước ta để ra hiện nay là dao tao những con người có khả năng thích ứng cao trước những sự biến động của xã hội. Việc nấm được sự phát triển trí tuệ của học sinh là một việc làm hết sức cẩn thiết và nhất là trong công tác giáo dục, Biết được mức trí tuệ của đối tượng giảng dạy cho phép ta có biện pháp giảng dạy thích hợp.
Đặc biệt là ở đối tượng học sinh phổ thông trung học - Đây là lực lượng quan trong trang công cuộc xây dựng đất nước trong tương lai. Gan đây, ở Việt Nam, việc nghiên cứu trí tuệ mới bat đầu được quan tam. Trước thực tế dé, chúng tôi đã chọn dé tài “Đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh ở một số trường phổ thông trung hoc của Quận Bình Thạnh và Quận 12 Thành phé Hỗ Chí Minh”. tuận Yan Tot Nghiệp ft the Thales Fisting PHẢN : TONG QUAN TAI LIEU «oa A/ TRÍ TUE: 1.
Một số quan điểm cổ điển: - Trong gắn hen hai ngàn năm, cuộc tìm tôi không dứt về ban chất của con người đã dẫn tới sự tập trung tiêu điểm vàu cuộc kiểm tìm tri thức của loài người chúng ta; và những khả năng nav hiện ra thành những hiểu biết thì déu được đánh gid cao, Và các quan điểm của loài người ve trí tue cũng rất khác nhau. Chang han như, của Socrates: “Hay tí mình hiết lấy”: của Aristotle: "Mọi con người vé bản chất déu có nguyện vọng hiểu biết"; và của Descartes "Tôi tư duy, vậy là tôi tốn tụi”. [6] - Đầu thời Trung Cổ, Saint Augustine đã tuyên hố: "Tác gia dich thực và người thúc đẩy vũ trụ là trí khôn", Còn quan điểm của Dante thì “chức năng đích thưc củu của giống người gop chung lai và liên tục thể hiện toàn bo năng lực có thể có cho trí tuệ, trước hết là trong suy luận roi sau đó là phát triển suy luận vì lợi ích của nó, thứ mới đến hành động”. "Thuyét sy nao" của Franz Joseph Gall; Theo thuyết này cho rằng, so người này khác với so người kia, và những sự khác nhau giữa chúng phản ánh những sự khác nhau vẻ khối lượng và hình thd của não, Cúc vùng khác nhau của não kin lượt phục Trang 6 luận Yan Tot Nghi¢p Fe “XÂY thale ./behvp vụ các chức năng riéne biết, Vậy là bằng cách xem xét kỹ hình thù hop xơ của môi con người, một chuyên gia có thể xúc định được chỗ mạnh, chỗ yếu và đặc tinh tư chất tinh than của người đó.|6| Tuy nhiên, được trang bi một cách nhìn hiện dat, ta sẽ dễ dang nhận ru những sai lắm trong lý thuyết so não, Chẳng han nhữ chúng ta biét rằng độ lin của não không có mối liên hệ rõ rệt nào với trí tuệ cá nhân.
Thực ra thì những cá nhân với bộ não rất be như nhà the Walt Whitman và nhà văn Anatole France đều có những thành tựu to lớn, Và ngày cả những người có bộ não dé số lam khi là những người ngu dan. Chưa kể là bản thân kích thước và hình thù hộp sọ cho thay sự đo đạc không chính xác những cấu hình quan trong của vỏ não người, Suy cho cùng, tuy có những sai Lim trong thuyết của Gall nhưng cũng không thể hoàn toàn gạt bỏ thuyết này, Gall là một trong số những nhà bác học đầu tiên đã nhấn mạnh rằng các bộ phan khác nhau của vỏ não thực hiện cúc chức năng khác nhau. Ông còn để xuất rằng: không có sự ton tại của những năng lực tỉnh than tổng quát như trì tiác, ký ức. chú ý mà đúng hơn là sự tổn tại những nang lực tỉnh than tổng quát như trị giác, ký ức khác nhau và những hình thức giếng nhau đổi với mỗi một trong vài bu năng lực trí tuệ, như ngôn ngữ.
dm nhạc hoặc thị giác |Ê| 3. Thuyết trí khôn của B. Russell: No đánh dấu tôi da sự phụ thuộc có thể có của tâm lý học và logic tự biện. Russell nói, khi chúng ta trí giác một bông hồng trắng.
chúng tt quan mềm đồng thời các khái niệm hoa hồng và mau trắng, và điều đó bằng mot quá trình tường dong với quá trình trí giác. Chúng ta nam bất trực tiếp và như từ bên ngoài những cái pho hiển tưởng ứng với Trang 7 tuận Yan Tot Nghiép te Ty Thde Reaimg những khách the ton tại không phụ thuậc vào tư duy của chủ thể, Như vậy, lý thuyết của Russell đã chia cắt yếu tổ chủ quan của tự duy (niềm tin.) khỏi những yếu tổ khách quan (nhu cầu. Thuyết trí khôn của Binet: Binet đã lấy lại vấn để vẻ các tương quan của tự duy và các hình ảnh một cách lý thú của sự nội quan được gay ra và nhữ cách thức dé ma khẩm phá ra sự tổn tai của một tự duy không có hình ảnh, ede quan hệ, các phan doán, that độ. đã tran ra ngoài sự tạo hình và tư duy không tự quy vào việc "ngắm nghiá từ trung tam triển lãm tạo hình dan gian” - ông khẳng định như vậy năm 1903 trong Nehién cứu thực nghiệm ve trí Khan của minh.
Binet giữ thái dé tran trọng, tự hạn chế trong việc ghi nhận sự thin thuộc giữa các "tư thế” trí tuệ và vận động và kết luận rằng trên quan điểm của một mình sự nội quan, “tự duy là một hoạt động vũ thức cha trí óc”, | 10) 5. Trường phái Wurzhourg: Củ cade công trình nghién cứu của Watt, Hesser, Buhler. Kulpe, Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Buhler, Ong cho rằng, những yếu tổ củu tư duy có được bằng phương thức nội quan được phản bổ thành 3 phạm trú: các hình ảnh, những tình cảm trí tuệ và những thái do. cuối cing là những ý nghĩ.
Lý thuyết về nhiều dang trí khôn (Theory Of Multiple Intellgences): Do Howard Gardner khởi xướng, Thuyết này còn được gọi là thuyết MI, Cất lỗi của thuyết MI là thừa nhân nhiều thành phần trí khôn trong môi huặc nhiều nang lực của con người, Những dang trí khôn khác Trang ® tuận Yan Tot ighiep be Th Thee Fame nhau đó là: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn dm nhạc. trí khôn logic - toán, trí khôn không giun, trí khôn cơ thể trí giác vận động, và trí khôn cá nhân, Trong trí khôn cá nhãn có hai phẩn: trí khôn cá nhân hướng vào bén trong con người mình và trí khôn cá nhắn hướng ra người khác, Những dang trí khôn không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người. Một dang kỹ năng, kỹ xảo của con người có khi không huy động hết moi dạng trí khôn đó. Một người có thể phát huy được một hoặc nhiều thành phần trí khôn thi có thể đạt tới nhiều thành tưu trong cuộc sống.
Thiếu đi một dang trí khôn. con người vẫn có thể thành tựu không thấp. [6] 7, Một số nghiên cứu mới nhất về trí khôn: T,1, Trên thế giới: 7.1 Thong mình là do di truyền quyết định. Chỉ số thông minh là do thừa kế Các nhà nghiên cửu Mỹ và Phân Lan phát hiện ra rằng, ở các cặp sinh đôi cùng trứng (cỏ cùng bộ gene), lượng chất xám trên não hau như tương đương.
Điều này không xảy ra ở các cặp sinh đôi khác trứng (những người chỉ có nửa bộ gene giong nhau). Ma tri thang minh lại chu yeu do chat xám quy định. Như thế, gene có ảnh hưởng rat quan trong den chi SỐ 10. [16] Vi những người sinh đôi thưởng sống trong cùng môi trường, nên việc nghiên cứu trên các cặp song sinh sẽ giúp các nhà khoa học loại bỏ được ảnh hưởng của nhân to mỗi trường ra khỏi thi nghiệm.
Paul Thompson tại Đại học California và dong nghiệp đã sử dụng phương pháp MRI (chụp cộng hướng từ) dé chụp cất lớp não bộ cua 10 cặp sinh đôi cùng trứng va l0 cặp sinh đôi khác trứng. Nhờ the, ho phan biệt được rõ rang chất trang và chat xăm trong não. [16] Trang Ụ tuận Yan Tot Aghi¢p He dhy thdo Fang Nhóm nghiên cứu phát hiện rang. một số vùng trên não có tinh di truyền cao, bao gom ving ngôn ngữ (được gọi là vùng Broca và Wernike), va thuy tran, nol co Vai trẻ quan trong trong nhận thức cua con người.