Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về vấn đề ở nước ngoài a) Nghiên cứu liên quan đến kỳ vọng thành tích học tập Khi nhắc tới tác động của kỳ vọng, người ta thường nhớ tới “hiệu ứng Pygmalion” hay còn gọi là lời tiên đoán trở thành sự thực từ thực nghiệm của Robert Roesenthal (1968).
Trong thực nghiệm của mình, Rosenthal và Jacobson đã lựa chọn ngẫu nhiên một số học sinh ở một trường tiểu học công lập và nói với giáo viên rằng đây là những học sinh có thể trở thành “những người phát triển nhảy vọt”. Các giáo viên đã thể hiện sự trông đợi vào những học sinh này thông qua việc ứng xử với các em như thể chúng sẽ trở thành “người nhảy vọt”. Sau một thời gian phần lớn học sinh đều đáp ứng những kỳ vọng mà giáo viên đã đặt ra và đạt thành tích cao trong học tập (dẫn theo Nguyễn Thị Uyên Thy, 2001); (Tô Thị Hoan, 2017); (Đinh Thị Trinh, 2012). Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ giữa những kỳ vọng của cha mẹ với thành tích học tâp của trẻ, với sự thích nghi, căng thẳng tâm lý của học sinh.
Trong đó kỳ vọng về thành tích học tập được nghiên cứu trên một môn học, kết quả học tập thông qua điểm số của trẻ ở trường hoặc ảnh hưởng như thế nào đến khả năng học đọc của trẻ. Kỳ vọng của cha mẹ đã được tìm thấy đóng một vai trò quan trọng trong học tập và sự thành công trong học tập. Học sinh có cha mẹ có kỳ vọng cao nhận được điểm cao hơn, đạt được điểm số cao hơn về các bài kiểm tra chuẩn (Davis- Kean, 2005; Pearce, 2006; Vartanian, 2007). Kỳ vọng của cha mẹ cao cũng liên quan đến động cơ của học sinh đạt được trong trường học, khả năng thích ứng về học vấn và xã hội, và khát vọng đi học đại học (Hossler and Stage, 1992) (dẫn theo Yoko Yamamoto &Susan D.
Wigfield và Eccles đã phát triển lý thuyết giá trị kỳ vọng về động lực thành tích. Lý thuyết cho rằng những mong đợi và giá trị của cá nhân bị ảnh hưởng bởi bối cảnh xã hội của họ (cha mẹ, thầy cô, bạn bè, khu phố, và cộng đồng) và thành tích học tập trước đây. Sau khi thành lập, kỳ vọng và giá trị của một cá nhân sẽ ảnh Luan van 7 hưởng đến thành tích học tập, kiên trì và lựa chọn môn học của cá nhân. Nói cách khác, lý thuyết đưa ra các mối quan hệ nhân quả từ bối cảnh xã hội (ví dụ như mong đợi của cha mẹ) đến kỳ vọng của học sinh và thành tích học tập của họ (Eccles và Wigfield, 2002).
Sự kỳ vọng của cha mẹ về thành tích học tập của trẻ được xác định theo nhiều khía cạnh như kỳ vọng ngắn hạn cho từng lớp học (Entwisle& Hayduk, 1987) với kỳ vọng dài hạn cho từng cấp học (Pugh, 1976); những thành công cụ thể (như làm tốt môn toán) với những thành công chung chung (Crandall, Dewey, Katkovsky & Preston, 1964). Sự kỳ vọng cao của bố mẹ dẫn trẻ tới việc thiết lập cho mình mức độ cao về học tập và đặt ra cho bản thân nhu cầu cao hơn từ khi còn nhỏ rằng phải đạt được thành tích cao (Boocock, 1972). Wahedi (2010) đã nghiên cứu về “ảnh hưởng của những kỳ vọng từ phía cha mẹ vào thành tích tương lai của con đến sự phát triển trong những năm đầu đời. Đây là một nghiên cứu tương quan giữa biến độc lập là mức độ kỳ vọng và biến phụ thuộc là mức độ ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi.
Kết quả cho thấy có mối tương quan thuận giữa mức độ kỳ vọng của cha mẹ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phát hiện ra cha mẹ có tình trạng kinh tế càng cao thì mức độ kỳ vọng vào thành tích tương lai càng cao” ( dẫn theo Tô Thị Hoan, 2017). Yeung và cộng sự (2010) đã thực hiện một nghiên cứu trên 275 học sinh lớp 7 ở Singapore nhằm tìm hiểu xem kỳ vọng của cha mẹ ảnh hưởng ngắn hạn hay dài hạn trong việc học môn Vật Lý của học sinh không (thành tích và hứng thú). “Người tham gia được yêu cầu trả lời 29 câu hỏi trong bảng khảo sát về khái niệm bản thân trong việc học môn Vật lý (thành tích và hứng thú), nhận thức về những kỳ vọng của cha mẹ ở môn Vật lý, sự tham gia học môn vật lý (thành tích ngắn hạn), khát vọng học Vật lý trong tương lai (thành tích dài hạn).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có một sự ảnh hưởng tích cực của những nhận thức về kỳ vọng từ phía cha mẹ lên cả thành tích ngắn hạn và dài hạn trong việc học môn Vật lý” (dẫn theo Tô Thị Hoan, 2017). Tóm lại, kỳ vọng thành tích học tập nói được nghiên cứu từ rất lâu, các nghiên cứu tập trung xác định mức độ ảnh hưởng tích cực của kỳ vọng đến kết quả học tập Luan van 8 của trẻ trong từng môn học riêng lẻ, từng giai đoạn học tập của trẻ. b) Nghiên cứu xung đột tâm lý và xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con. XĐTL như là một hiện tượng tâm lýtương đối phổ biến trong các mối quan hệ xã hội, nó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm lý, hiệu quả làm việc, sự phát triển xã hội… vì vậy XĐTL được rất nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về nguồn gốc, cấu trúc xung đột tâm lý. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có các tác giả S.Freud, mỗi giai đoạn phát triển của đứa trẻ đều có sự khoái cảm, xung đột, lo hãi riêng. Đây chính là nhân tố thúc đẩy sự phát triển tâm lý. Ông cho rằng, giai đoạn dậy thì ở tuổi thiếu niên là tuổi sôi động nhất nhưng cũng dễ xung đột nhất.
Trẻ bắt đầu thấy cha mẹ không thật hoàn hảo. Nó phát hiện ra những nhược điểm của cha mẹ, đôi khi thất vọng về gia đình mình. Từ đó trẻ dễ mắc những bệnh như: Tự kỉ, trầm cảm, hung tính… S.Freud cho rằng: ở trẻ có mặc cảm Odip cũng dễ gây nên xung đột trong gia đình ( Lê Minh Nguyệt, 2016).Piaget và các nhà tâm lý học nhân thức cho rằng XĐ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhận thức nói riêng và nhân cách của trẻ nói chung. Xung đột tâm lý như là một trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng giữa các quá trình đồng hóa và điều ứng các kích thích từ các môi trường.
Ông chỉ ra nguyên lý của sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên giữa đồng hóa và điều ứng (Dương Thủy Nguyên, 2016). Vưxgotki và các nhà tâm lý học cùng xu hướng quan tâm tới xung đột với tư cách là mâu thuẫn giữa các yếu tố tâm sinh lý bên trong của các cá nhân với các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường, khi sự phát triển các yếu tố bên trong và điều kiện khách quan bên ngoài không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến xung đột tâm lý, cá nhân sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng trong quá trình phát triển (Lê Minh Nguyệt, 2014) Cùng với các lý thuyết trên các tác giả khẳng định một lần nữa XĐTL mang Luan van 9 tính tất yếu, khách quan theo quy luật của sự phát triển, tuy nhiên các nghiên cứu của Freud và các nhà tâm lí học trị liệu cho rằng việc giải quyết không đúng các xung đột tâm lý cá nhân là nguyên nhân dẫn đến lệch lạc tâm lí, hành vi. Hướng thứ hai: Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa các cá nhân trong nhóm, giữa các nhóm và tập thể.Mayo (1880 -1949) đã chỉ ra rằng trong mỗi nhóm bao giờ cũng xuất hiện XĐ: giữa cá nhân với cá nhân trong nhóm; giữa cá nhân và nhóm; giữa nhóm và nhóm. XĐ xuất hiện thường xuyên và kết quả là nó luôn là sự căm ghét, sự bất hòa, thù địch…(Nguyễn Thị Hiền, 2017).
Xung đột tâm lý giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể không chỉ xảy ra ở người lớn mà còn xuất hiện ở tuổi thiếu niên, tiểu học. Cụ thể có các công trình nghiên cứu như: Inge B. Wissink, Maja Dekovic đã nghiên cứu trên 508 thiếu niên về mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của quan hệ tình bạn cụ thể như tần xuất liên hệ giữa bạn bè, sự tự tin, sự tin tưởng vào bạn bè của tuổi thiếu niên và nhận thức về sự lệch lạc hành vi của bạn. Từ kết quả cho thấy có vấn đề gây hấn và phạm pháp đáng báo động trong mối quan hệ bạn bè hư hỏng ở giai đoạn tuổi thiếu niên (dẫn theo Nguyễn Thị Hiền, 2017).
Brenda Davies (2001) trong tác phẩm “làm thế nào để đối phó với những xung đột trong tình bạn” đã đưa ra cách thức giải quyết xung đột trong tình bạn như: tìm ra động cơ xảy ra xung đột là xuất phát từ yêu thương hay trả đũa vết thương lòng của bạn. Hướng thứ ba: Nghiên cứu xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con ở lứa tuổi thiếu niên D.E Way (1953), Brett Laursen (1989) cũng nghiên cứu về xung đột trẻ em trong đó có lứa tuổi thiếu niên. Theo các tác giả, những biểu hiện XĐ của trẻ rất đa dạng. Cùng xuất phát từ một nguyên nhân nhưng biểu hiện hành vi XĐ lại rất khác nhau như cãi lại, lý sự, bỏ đi lang thang hoặc chứng trầm cảm …(Lê Minh Nguyệt, 2016).
Luan van 10 Petrovski (1982) đi sâu nghiên cứu xung đột lứa tuổi thiếu niên với người lớn. Ông cho rằng nguyên nhân xung đột là do người lớn không biết cách và không muốn tìm cho thiếu niên một vị trí bên cạnh mình. Nghiên cứu bản chất XĐTL các nhà nghiên cứu cho rằng mặc dù phần lớn xung đột xảy ra trong gia đình dường như không có gì nặng nề (con đi chơi về khuya, ngủ không đúng giờ giấc, ăn mặc không phù hợp lứa tuổi…) nhưng chính những xung đột ở mức độ thấp đó lại có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý của con tuổi đầu vị thành niên. Hơn nữa các nhà tâm lý học cũng cho rằng những chủ đề mà lứa tuổi này cha mẹ thường tranh luận với nhau đã thay đổi ít nhiều so với sáu mươi năm trước đây nhưng những cuộc tranh luận về việc nhà, giơ giấc đi lại, sở thích, hứng thú, phép lịch sự, ăn mặc và chuyện học hành là những chủ đề gây ra “sóng gió”, “va chạm” nhiều nhất giữa cha mẹ và con mọi thời điểm của lịch sử (dẫn theo Đỗ Hạnh Nga, 2014).