phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức Chƣơng 2: Thực trạng năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Trị 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA VIÊN CHỨC NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Viên chức và viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về viên chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội Theo từ điển tiếng Việt “Viên chức là người làm việc trong một cơ quan của nhà nước hay trong một sở tư” [38, tr.
Khái niệm này xác định viên chức theo nơi làm việc. Theo các tác giả Trần Anh Tuấn - Nguyễn Hữu Hải: “Viên chức là những người được ký hợp đồng làm việc với các đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [36,tr. Khái niệm này xác định viên chức theo cách thức hình thành. Theo các tác giả Trần Thị Thu - Vũ Hoàng Ngân: “Cán bộ, công chức, viên chức là một bộ phận chủ yếu của nguồn nhân lực trong tổ chức công” [33,tr.4] và “Nguồn nhân lực trong tổ chức công là những người làm việc trong các tổ chức công” [33,tr.
Khái niệm này được tiếp cận dưới góc độ quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công. Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 thì: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Khái niệm này chỉ ra các yếu tố cơ bản đẻ phân biệt viên chức với các đối tượng khác như cán bộ, công chức. Qua xem xét khái niệm viên chức từ nhiều góc độ nêu trên và căn cứ quy định của pháp luật, tác giả cho rằng: Viên chức là những người được tuyển 10 dụng vào làm việc tại một đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp đó.
BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội về BHXH, của Bộ Y tế về BHYT, của Bộ tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHYT, BHTN. BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có: - Ở Trung ương là BHXH Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương gồm 24 đơn vị.
- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam - Ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trực thuộc BHXH tỉnh. Theo quy định của Luật cán bộ công chức và Luật viên chức, những người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập đều là viên chức (trừ một số trường hợp là công chức theo quy định của pháp luật), do đó, tất cả những ai làm việc tại BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đều là viên chức. Từ cơ sở lý luận ở trên, tác giả cho rằng: “Viên chức ngành BHXH Việt Nam là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc trong hệ thống BHXH Việt Nam từ Trung ương xuống địa phương” 11 1. Vai trò, đặc điểm của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội Vai trò của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội Viên chức ngành BHXH đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ của ngành.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của viên chức làm trong ngành. Vai trò của viên chức ngành BHXH được thể hiện trong các công việc cụ thể như sau: Viên chức ngành BHXH là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung và của ngành BHXH nói riêng đến nhân dân, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đủ và thực hiện các chủ trương, chính sách trong đời sống, xã hội. Đồng thời, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người viên chức ngành BHXH không chỉ đảm bảo cho chủ trương, chính sách được thực hiện tốt mà còn phải kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương đường lối đó, đồng thời nắm bắt kịp thời, phản ánh kịp thời các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoàn phát triển của đất nước. Thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp theo vị trí việc làm: - Cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho những người tham gia BHXH, BHYT.
- Khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH, BHTN, BHYT. Thu các khoản đóng BHXH, BHTN, BHYT đối với các tổ chức và cá nhân tham gia; từ chối việc đóng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT không đúng quy định. Kiểm tra việc ký hợp đồng, việc đóng, trả BHXH, BHTN, BHYT đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. - Giải quyết các chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
12 - Chi trả lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp mất sức lao động; trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp tử tuất. - Quản lý việc sử dụng các quỹ BHXH, BHTN, BHYT bao gồm: quỹ hưu trí và tử tuất; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ ốm đau và thai sản; quỹ BHTN; quỹ BHYT đúng mục đích theo quy định của pháp luật. - Hạch toán các quỹ BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội Viên chức ngành BHXH cũng có những đặc điểm chung của viên chức nói chung và những đặc điểm riêng mang tính ngành nói riêng như sau: - Viên chức ngành BHXH được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam.
Thông qua hoạt động tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), người trúng tuyển viên chức được đơn vị ký hợp đồng làm việc. Thời hạn, nội dung và hình thức của hợp đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật. - Hoạt động nghề nghiệp của viên chức ngành BHXH đều dựa trên kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ mang tính nghề nghiệp cao, phải được đào tạo bồi dưỡng qua các trường lớp. Vì vậy, Công việc hoặc nhiệm vụ được giao phải phù hợp với vị trí việc làm tuyển dụng, chức danh nghề nghiệp mà viên chức được bổ nhiệm.
- Viên chức ngành BHXH hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị. Mức chi tiền lương đối với viên chức ngành BHXH bằng 1,8 lần so với chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định. Năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về năng lực, năng lực thực hiện nhiệm vụ, năng lực thực hiện nhiệm vụ của viên chức ngành Bảo hiểm xã hội 1.
Khái niệm về năng lực Thuật ngữ “Năng lực” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Capacitas; tiếng Anh là Capacity hat Ability - có nghĩa là khả năng làm việc tốt. Theo từ điển Tiếng Việt thì năng lực là được hiểu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Từ góc độ xã hội học quan niệm năng lực làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc, là một tập hợp các kiến thức, thái độ và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng.A Rudich: “Năng lực và tính chất tâm lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định”.M (1990): “Năng lực là những động lực, đặc điểm, sự tự nhận thức, kiến thức, quan điểm và các giá trị, các kỹ năng nhận biết và hành vi - bất kỳ một đặc điểm cá nhân nào mà có thể đo lường một cách đáng tin cậy mà những đặc điểm này có thể cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa những người thực hiện tốt và những người thực hiện trung bình, những người thực hiện hiệu quả và những người thực hiện không hiệu quả.
Năng lực có thể bao gồm cả ý định, hành động và kết quả.” 14 Bolt (1987) định nghĩa năng lực “là sự kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao.” Các khái niệm nêu trên đều đề cập đến khả năng thực hiện nhiệm vụ của một cá nhân hay tập thể đối với một hay một nhóm công việc do mình đặt ra hay được chỉ định nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đó với kết quả tốt nhất.