Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực thông tin của người dùng tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Chương 2: Thực trạng năng lực thông tin và các yếu tố tác động đến năng lực thông tin của người dùng tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực thông tin cho người dùng tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA NGƢỜI DÙNG TIN TẠI VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI 1. Một số vấn đề chung về năng lực thông tin 1. Các khái niệm Khái niệm năng lực Năng lực là vấn đề đã được bàn luận, đánh giá từ nhiều hướng tiếp cận trong những bối cảnh khác nhau. Từ góc độ Triết học, Năng lực “hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể […] Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử”.
Năng lực của con người không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó [27, tr. Dưới góc độ Tâm lý học, năng lực là “tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo có kết quả tốt nhất trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Các nhà nghiên cứu tâm lý học cũng cho rằng, năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất. Trong quá trình rèn luyện, dạy học, giáo dục, năng lực được hình thành và phát triển tích cực [50].
Trong khoa học về xây dựng và phát triển chương trình giáo dục, năng lực có thể hiểu là khả năng (gồm những gì đã được dạy, kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức, thái độ) được sử dụng hiệu quả, phù hợp, bằng sự cố gắng dựa vào những nguồn lực khác nhau [43]. Tóm lại, năng lực được hiểu là sự kết hợp của các kỹ năng, kiến thức, thái độ, phẩm chất của một cá nhân hay tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm Năng lực thông tin Thuật ngữ “Information Literacy” (năng lực thông tin) được Paul G. Zurkowski - Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp thông tin Mỹ (US Information Industry Association) nêu lên trong đề xuất gửi đến Ủy ban Quốc gia về Khoa học Thông tin - Thư viện năm 1974.
Zurkowshi sử dụng thuật ngữ này mô tả những người “đã học được kỹ năng sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin cũng như các nguồn thông tin khác nhau để có được giải pháp thông tin” [61, tr.6] Năm 1984, Kuhlthau đã định nghĩa NLTT bao gồm việc nhận ra nhu cầu tin và tìm kiếm thông tin cần thiết trong đời sống hàng ngày cũng như trong việc đưa ra những quyết định mang lại lợi ích cho nhu cầu tin của mình. Ngoài ra, NLTT còn đòi hỏi NDT có khả năng xử lý được số lượng những thông tin phức tạp được tạo ra bởi máy tính và các phương tiện thông tin đại chúng. Khả năng học tập suốt đời của mỗi người có thể bị thay đổi bởi sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật, đòi hỏi mỗi người phải trang bị cho mình những kỹ năng và tri thức mới [60]. Theo Hiệp hội các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989), “Năng lực thông tin là một tập hợp các khả năng đòi hỏi cá nhân để nhận ra thời điểm cần thông tin, có thể xác định vị trí, đánh giá, sử dụng có hiệu quả thông tin cần thiết đó” [55].
Theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ (ALA): “Năng lực thông tin là năng lực giúp mỗi cá nhân nhận biết nhu cầu thông tin, khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin hiệu quả để phục vụ quá trình học tập, nghiên cứu và trong cuộc sống” [54]. Viện NLTT Úc và New Zealand (2004) cho rằng một người có NLTT là người có khả năng: - Nhận dạng nhu cầu thông tin; 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần; - Khai thác thông tin hiệu quả; - Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả; - Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra; - Biến nguồn thông tin được chọn thành tri thức; - Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề, và ra quyết định một cách hiệu quả; - Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin; - Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức; - Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm xã hội. - Trải nghiệm NLTT như một phần của học tập độc lập cũng như tự học suốt đời [57, tr3-4]. Reitz trong Từ điển về Khoa học Thông tin và Thư viện (2004), NLTT là khả năng tìm kiếm thông tin theo nhu cầu, gồm có sự hiểu biết về cách tổ chức của thư viện, các nguồn tài nguyên mà thư viện có thể cung cấp cùng với các kỹ thuật tìm kiếm đơn giản.
Bên cạnh đó, định nghĩa này cũng bao gồm các kỹ năng cần thiết để đánh giá nội dung, sử dụng thông tin có hiệu quả, những kiến thức về công nghệ thông tin, kiến thức về chính trị, văn hóa, xã hội. Định nghĩa này tương đồng với kỹ năng thông tin [65]. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Viện chuyên gia Thư viện và thông tin Hoàng gia Anh quốc (The UK’s Chartered Institute of Library and Information Professional – CILIP): Người có NLTT là người biết nhu cầu thông tin của mình, biết chỗ để tìm chúng, biết cách đánh giá, sử dụng và chia sẻ thông tin một cách hợp pháp. Ngoài ra, ở đây cũng cung cấp hướng dẫn những kỹ năng cần thiết để trở thành người có NLTT như sau: Khả năng nhận biết nhu cầu tin, nhận diện được nguồn thông tin, biết cách tìm tin, khả năng đánh giá chất lượng nguồn tin, biết cách sử dụng cũng như khai thác kết quả tìm được, hiểu được những vấn đề liên quan đến pháp luật và trách nhiệm khi sử dụng thông tin, biết cách chia sẽ, tổ chức và quản lý thông tin [58].
Theo Webber (2010), năng lực thông tin là việc áp dụng các hành vi thông tin một cách phù hợp để xác định thông tin qua các kênh hoặc phương tiện, chắt lọc thông tin để phù hợp với nhu cầu tin, từ đó dẫn đến việc sử dụng thông tin một cách khôn ngoan và phù hợp với đạo đức trong xã hội. [13] “Information literacy” là một thuật ngữ khá mới mẻ đối với các cán bộ thông tin- thư viện. Thuật ngữ này được biết đến chính thức trong một bài báo của tác giả Nguyễn Hoàng Sơn công bố vào năm 2000. Thuật ngữ “Information Literacy” đã được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách hiểu khác nhau như “Kỹ năng thông tin”, “Kiến thức thông tin”, “Thông thạo thông tin”, “Hiểu biết thông tin”,… Theo PGS.
Trần Thị Quý, thuật ngữ “Information Literacy” cần được dịch là “Năng lực thông tin” bởi khi đi vào nghiên cứu s âu hơn về vấn đề này, việc dịch thuật ngữ “Information Literacy” là “Kiến thức thông tin” hay những cách dịch ở trên là chưa dầy đủ về nội dung. Có thể hiểu NLTT bao gồm thái độ, kiến thức, kỹ năng đối với việc truy cập và sử dụng thông tin. Ngày nay, thuật ngữ này đang được sử dụng nhiều hơn tại các trường đại học, các cơ quan, trung tâm TTTV, các viện nghiên cứu ở Việt Nam [25]. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những điểm hợp lý trong quan điểm của các tác giả về năng lực thông tin, có thể hiểu một cách chung nhất về khái niệm này như sau: Người có năng lực thông tin là người có khả năng nhận biết nhu cầu, tìm kiếm, thu thập, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, đúng nhu cầu và hợp pháp.
Nội dung của năng lực thông tin Năng lực thông tin bao gồm những khả năng, kỹ năng cụ thể sau: Nhận dạng nhu cầu thông tin Trong mỗi nghiên cứu, việc xác định chủ đề đúng là bước đầu tiên của năng lực nhận dạng nhu cầu tin. Vấn đề được đặt ra để giải quyết sẽ quyết định việc lựa chọn nguồn thông tin, phương pháp thu thập, tổ chức và sử dụng thông tin,… NDT cần phải nhận dạng được nhu cầu của mình về thông tin và tính chất thông tin. NDT phải biết các loại thông tin mà mình cần (sự kiện, số liệu, thống kê, thông tin cấp 1, cấp 2…); lượng thông tin cần trong phạm vi cụ thể, độ sâu của thông tin; hiểu được cách tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đề nghiên cứu; đánh giá lại bản chất và phạm vi của nhu cầu thông tin: xem lại nhu cầu thông tin ban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm. Việc nhận diện được nhu cầu tin của NDT tốt sẽ làm cho việc tìm kiếm, lựa chọn và sử dụng thông tin trở nên hiệu quả, đúng mục tiêu nghiên cứu, thời gian, phạm vi nghiên cứu, không bị thiếu khi quá ít tài liệu hay không bị nhiễu khi có quá nhiều tài liệu.
Tìm kiếm thông tin Để có kết quả tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và chất lượng, NDT cần có năng lực tìm kiếm thông tin. Năng lực này được thể hiện thông 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua việc NDT phải biết xây dựng chiến lược tìm tin; biết cách lựa chọn công cụ tìm tin phù hợp, hiệu quả; sử dụng thành thạo công cụ tìm tin. - Xây dựng chiến lược tìm tin: phân tích trước khi tìm; xác định được các từ khóa, từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến thông tin mình cần; thực hiện phép tìm; điều chỉnh chiến lược tìm khi cần: điều chỉnh từ khóa hoặc chủ đề.