Đặt vấn đề rằng nếu bạn làm việc trong một công ty nước ngoài trong khi bạn không thông thạo thì chắc chắn bạn sẽ không thể nào tồn tại trong môi trường đó được. Hiện nay, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ cũng là những quốc gia có nhiều công ty lớn đầu tư tại Việt Nam, chính sách về nhân sự, tiền lương và cơ hội nghề nghiệp luôn rộng mở đối với những ứng viên biết sử dụng ngôn ngữ của họ. Thứ năm, ngoại ngữ tăng cơ hội học tập và giao lưu với bạn bè quốc tế. Biết và hiểu cũng như giao tiếp tốt ngoại ngữ là một cơ hội rất lớn để có thể kết bạn trên toàn thế giới.
Với xu hướng giao lưu kết nối “Không biên giới” mọi người trên thế giới đều có thể nói chuyện và tìm hiểu những văn hóa từ những nước khác. Việc giao lưu với bạn bè và nhất là người ngoại quốc giúp quảng bá được hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam. Thứ sáu, khả năng ngoại ngữ tốt giúp nâng cao giá trị bản thân. Trong một cuộc họp, đối với thời kì hội nhập như hiện nay thì nhũng cuộc họp với các đối tác nước ngoài trong các công ty là điều xảy ra thường xuyên.
Khi đó nhà quản lý hay đội ngũ cán bộ nhân viên trong công ty ai cũng đều có khả năng ngoại ngữ tốt sẽ tạo cho nhà đầu tư thiện cảm cô cùng lớn. Hay đơn giản như khi đi du lịch nước ngoài, không thể lúc nào cũng có thể mang điện thoại ra để dịch. Khi đó nếu có một khả năng ngoại ngữ tốt, bạn sẽ giải quyết một cách rất nhanh chóng từ đó nâng cao chất lượng và giá trị bản thân.Quy định yêu cầu năng lực ngoại ngữ đối với sinh viên Tại Việt Nam hiện nay đã có các quy định về yêu cầu năng lực ngoại ngữ đối với sinh viên. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuẩn đầu ra ngoại ngữ được xác 10 định theo khung trình độ quốc gia Việt Nam ban hành từ năm 2016.
Theo đó, yêu cầu với người có bằng đại học là năng lực ngoại ngữ Bậc 3 đối với sinh viên tốt nghiệp các ngành không chuyên ngoại ngữ ( tương đương với trình độ B1 theo khung Châu Âu), Bậc 5 đối với sinh viên tốt nghiệp các ngành chuyên ngoại ngữ. Quy định này được áp dụng cho toàn bộ các sinh viên thuộc các trường đại học, trong đó bao gồm cả sinh viên ngành Quản trị nhân lực. Căn cứ theo thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2014 về các khung năng lực ngoại ngữ dành cho Việt Nam. Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc áp dụng cho các chương trình đào tạo ngoại ngữ, các cơ sở đào tạo ngoại ngữ và người học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân: Bậc 1: Có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể.
Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/bạn bè v.v… Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ. Bậc 2: Có thể hiểu được các câu và cấu trúc được sử dụng thường xuyên liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản (như các thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm). Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày. Có thể mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu.
Bậc 3: Có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí, v. Có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra khi đến khu vực có sử dụng ngôn ngữ đó. Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm. Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, giấc mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình.
Bậc 4: Có thể hiểu ý chính của một văn bản phức tạp về các chủ đề cụ thể và trừu tượng, kể cả những trao đổi kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân. Có thể giao tiếp ở mức độ trôi chảy, tự nhiên với người bản ngữ. Có thể viết được các văn bản rõ ràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và có thể giải thích quan điểm của mình về một vấn đề, nêu ra được những ưu điểm, nhược điểm của các phương án lựa chọn khác nhau. Bậc 5: Có thể hiểu và nhận biết được hàm ý của các văn bản dài với phạm vi rộng.
Có thể diễn đạt trôi chảy, tức thì, không gặp khó khăn trong việc tìm từ ngữ diễn 11 đạt. Có thể sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả phục vụ các mục đích xã hội, học thuật và chuyên môn. Có thể viết rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết về các chủ đề phức tạp, thể hiện được khả năng tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối câu và các công cụ liên kết. Bậc 6: Có thể hiểu một cách dễ dàng hầu hết văn nói và viết.
Có thể tóm tắt các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại thông tin và trình bày lại một cách logic. Có thể diễn đạt tức thì, rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được các ý nghĩa tinh tế khác nhau trong các tình huống phức tạp. Tóm lại, yêu cầu về trình độ ngoại ngữ còn tùy thuộc vào ngành đào tạo và trường của sinh viên theo học. Sinh viên có thể tự học và thi thêm ở ngoài tùy theo mục tiêu của bản thân mong muốn để đáp ứng nhu cầu học tập cũng như việc làm của sinh viên.Yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực ngoại ngữ của sinh viên Năng lực ngoại ngữ của sinh viên nói chung và sinh viên ngành Quản trị nhân lực nói riêng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm: Mục tiêu nghề nghiệp: Căn cứ vào mục tiêu mà sinh viên hướng đến thì sinh viên sẽ lựa chọn điều cần thiết để tiếp nhận những thứ có thể giúp ích cũng như tạo cơ hội cho sinh viên ở hiện tại cũng như là cơ hội làm việc sau này.
Nếu như công việc mà sinh viên hướng đến không nhất thiết phải cần có ngoại ngữ thì họ không cần thiết phải học, ngoại trừ trường hợp mà họ thích thì có thể học tùy theo lựa chọn của sinh viên. Tài chính: Về cơ bản nếu như sinh viên không thể tự học ngoại ngữ ở nhà thì chi phí cho một khóa học ngoại ngữ để thi chứng chỉ thì không phải là thấp. Con số này không phải ai cũng có thể tự chi trả được, chính vì vậy mà nếu như sinh viên thật sự muốn theo học ngoại ngữ mà không có điều kiện để theo học thì bắt buộc sinh viên đó phải biết tự kỷ luật bản thân để tự học tại nhà. Quỹ thời gian: Việc học ngoại ngữ không phải học một lần là có thể xong mãi mãi, bản chất của việc này là sự duy trì liên tục, bởi vậy mới có thời hạn đặt ra cho mỗi loại chứng chỉ ngoại ngữ.
Chính vì vậy mà sinh viên cần lập cho mình một quỹ thời gian nhất định mỗi ngày, mỗi tuần để học ngoại ngữ một cách xuyên suốt và duy trì hằng ngày để đảm bảo tính bền vững và ổn định. Thái độ: Điều quan trọng nhất trong việc học một ngôn ngữ mới đó chính là thái độ tự học của sinh viên. Nếu như sinh viên không thực sự yêu thích hay muốn học ngôn ngữ đó thì sẽ rất khó để sinh viên tiếp nhận. Bên cạnh thái độ ham học hỏi thì còn đòi hỏi sự kiên nhẫn của sinh viên đối với ngôn ngữ đó.
Môi trường học tập: Môi trường học tập có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sinh viên. Nó bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài lớp học đều tác động đến sinh viên. Nếu 12 người dạy không truyền đạt tốt dẫn đến sinh viên không tiếp nhận được kiến thức, môi trường học tập không đủ chuyên nghiệp, linh hoạt cũng như là các trang thiết bị cần thiết thì điều đó cũng hạn chế khả năng của sinh viên. Xu hướng nghề nghiệp: Dựa trên nhu cầu và sự phát triển không ngừng trong xã hội của các công ty xuyên quốc gia, trang bị cho bản thân thêm một loại ngôn ngữ mới là điều vô cùng cần thiết.
Để tự tạo thêm cơ hội, sinh viên sẽ cần phải nghiên cứu rất nhiều về xu thế việc làm hiện tại cũng như tương lai của xã hội để chuẩn bị trước cho bản thân những kỹ năng cần thiết.Ảnh hƣởng của năng lực ngoại ngữ đến cơ hội việc làm của sinh viên 1.Nhận thức của sinh viên về ảnh hƣởng của năng lực ngoại ngữ đến cơ hội việc làm Nhận thức của sinh viên về ảnh hưởng của năng lực ngoại ngữ đến cơ hội việc làm là khả năng nhìn nhận, hiểu biết của sinh viên đối với những giá trị kết quả mà năng lực ngoại ngữ có thể đem đến cho họ trong hiện tại và tương lai. Sự hiểu biết và đánh giá của sinh viên đối với vấn đề này sẽ phản ánh lại trong hành động và cách tiếp nhận của sinh viên. Có thể đánh giá một cách khách quan rằng ngoại ngữ đang là một phương tiện có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với cơ hội việc làm nói chung ở hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, việc nhận thức của sinh viên đối với vấn đề này là khác nhau đối với từng cá nhân, đối tượng khác nhau tùy vào kỹ năng, trình độ, mục tiêu mà họ hướng tới.
Một bộ phận sinh viên có thể cho rằng năng lực ngoại ngữ là vô cùng cần thiết đối với cơ hội việc làm không chỉ sau này mà hiện tại cũng như vậy. Dường như ở bất cứ doanh nghiệp nào khi yêu cầu tuyển dụng đều có chỉ tiêu về ngoại ngữ, ưu tiên các ứng viên biết một trong các ngôn ngữ sau. Đây chính là ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội việc làm của sinh viên, khi nó là một tiêu chí không thể thiếu trong các thông báo tuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay.