lời mở đầu và phần kết luận thì đề tài đƣợc chia thành ba chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP:Trình bày cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới sáng tạo, năng lực đổi mới sáng tạo của chủ doanh nghiệp. 9 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI: Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trình bày phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể cho đề tài bao gồm thiết kế nghiên cứu, bảng khảo sát, thực hiện phân tích kết quả điều tra khảo sát. Chƣơng 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA: Đề xuất định hƣớng giải pháp nhằm nâng cao năng lực đổi mởi sáng tạo của chủ doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
10 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU Xác định vấn đề nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Cơ sở lý luận: - Doanh nghiệp và quản trị kinh doanh - Chủ doanh nghiệp - Lý luận về đổi mới sáng tạo - Năng lực đổi mới sáng tạo của chủ doanh nghiệp Xác định mô hình nghiên cứu và cơ sở cấu thành Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lƣợng - Thảo luận - Thiết kế bảng khảo sát - Phỏng vấn - Thu thập số liệu - Điều chỉnh mô hình Xử lý số liệu - Phân tích thông tin cá nhân và DN - Phân tích thực trạng nhận thức và văn hóa ĐMST của chủ doanh nghiệp - Phân tích thực trạng năng lực ĐMST - Phân tích kết quả ĐMST Kết quả nghiên cứu Kết luận và các giải pháp 11 CHƢƠNG 1–CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚISÁNG TẠO CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh nghiệp và quản trị kinh doanh 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.2 Phân loại doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp năm 2005: Dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu, kinh tế vi mô chia các tổ chức doanh nghiệp ra làm 3 loại hình chính: Doanh nghiệp tƣ nhân (Proprietorship), doanh nghiệp hợp danh (Partnership), doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation). Dựa trên hình thức pháp lý doanh nghiệp thì các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, Doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành có chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn.
12 Dựa trên quy mô doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, doanh nghiệp nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nƣớc, ngƣời ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nƣớc mình.
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lƣợng lao động trung bình hàng năm từ 10 ngƣời trở xuống đƣợc coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dƣới 200 ngƣời lao động đƣợc coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 ngƣời lao động thì đƣợc coi là doanh nghiệp vừa.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam trƣớc đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã đƣợc hiểu thống nhất: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động”. Nhƣ vậy tiêu chí để xác định DNNVV là: Có số vốn đăng ký dƣới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặccó số lƣợng lao động dƣới 300 ngƣời. 13 Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trƣờng hợp ngƣời ta còn dùng thêm khái niệm doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa nhƣ sự phân loại của Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam: “Doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động ít hơn 50 ngƣời.
Các doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 9 ngƣời đƣợc coi là doanh nghiệp cực nhỏ”. Với khái niệm này thì doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp còn lại trong khái niệm của nghị định 90 tức là doanh nghiệp có lao động từ 50 đến 299 ngƣời. Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVV của Nghị định 90 đã bộc lộ những điểm chƣa hợp lý “có những doanh nghiệp có số lao động vƣợt xa con số 300 (có trƣờng hợp 500-600 lao động), nhƣng vì vốn đăng ký dƣới 10 tỷ đồng nên vẫn dƣợc coi DNNVV. Ngƣợc lại, có doanh nghiệp có mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhƣng số lao động thƣờng xuyên thấp hơn 300 cũng đƣợc xếp vào “đội ngũ” DNNVV”.
Mặt khác việc khái niệm DNNVV không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì “lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là ít, nhƣng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều”. Hơn nữa, tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh nghiệp tự khai thƣờng “mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát”. Điều này sẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo Nghị định này, DNNVV đã đƣợc phân theo khu vực kinh doanh và có phân loại cụ thể cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân 14 đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ bảng sau: Bảng 1.2: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.2Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm, đặc trƣng, đặc thù của doanh nghiệp nhỏvà vừa là những nhân tố quan trọng chi phối các hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vậy, nắm vững các đặc điểm riêng có của doanh nghiệp nhỏ và vừa là một yêu cầu cấp thiết đối với các lãnh đạo doanh nghiệp. Ngoài những đặc thù chung của hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn có những đặc thù riêng của mình.
Sau đây là các đặc thù của doanh 15 nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chi phối công tác lãnh đạo của lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chủ doanh nghiệp thường trưởng thành từ thực tiễn và đi lên từ kinh nghiệm.Đối với hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các chủ doanh nghiệp thƣờngtrƣởng thành từ thực tiễn và đi lên từ kinh nghiệm. Hơn thế nữa, cũng giống nhƣ các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chủ yếu thành công nhờ yếu tố “dám chịu rủi ro” và “đi đầu”. Vì vậy, xét trên giác độ chiến lƣợc, nhiều chủ doanh nghiệp chƣa thực sự có tầm nhìn;xét về mặt trình độ, nhiều chủ doanh nghiệp chƣa thực sự có kiến thức.
Qui mô vốn và lao động nhỏ.Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có qui mô khá khiêm tốn về vốn, về lao động, về sản lƣợng, về ảnh hƣởng thị trƣờng…Chính vì vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khai thác lợi thế về qui mô, lợi thếvề vốn, lợi thế về đầu tƣ. Khả năng về công nghệ thấp.Nhƣ đã đề cập ở trên, do hạn chế về vốn nên hầuhết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có khả năng tiếp cận với các công nghệtiên tiến, hiện đại. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gần nhƣ chƣa có hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) sản phẩm mới. Bởi vậy, thực tế các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đang “nép mình” vào và đang “ăn theo” các doanh nghiệp lớn.
Khả năng tiếp cận thị trường kém.Do đặc tính “nhỏ” của mình, do yếu tố “kinh nghiệm” ăn sâu vào tâm khảm, do thói quen kinh doanh theo “cảm nhận” nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa gần nhƣ chƣa nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nghiên cứu thị trƣờng nhằm nắm bắt nhu cầu thị trƣờng, nhu cầu khách hàng. Do chƣa nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nắm bắt thị trƣờng nên các chủdoanh nghiệp cũng chƣa trang bị cho mình các kiến thức, 16 các công cụ cần thiết của nghiên cứu thị trƣờng nhằm tiến hành nghiên cứu để tìm cho mình một phân đoạn thị trƣờng phù hợp nhất. Khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp không cao.Quản trị nội bộ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thƣờng mang tính gia đình, ngƣời chủ sở hữu thƣờngđồng thời là ngƣời quản lý, là ngƣời quản đốc, là ngƣời cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp. Nói cách khác, chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam cùng một lúc thực hiện quá nhiều chức năng và đảm nhận quá nhiều vai trò khác nhau trong doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, ngoài quan hệ góp vốn kinh doanh, các thành viên trong doanh nghiệp còn có quan hệ huyết thống, họ hàng, bạn bè hết sức thân thiết. Do vậy, chất lƣợng quản trị nội bộ rất yếu kém, thiếu cơ bản, chỉ dựa vào kinh nghiệm kinh doanh của bản thân. Trình độ tay nghề của người lao động thấp.