Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước và theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thì công chức cấp xã gồm 07 chức danh sau: a) Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - Thống kê; d) Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường; đ) Tài chính - Kế toán; e) Tư pháp - Hộ tịch; g) Văn hoá - Xã hội. Vị trí, vai trò của công chức cấp xã Ở cấp xã, UBND không có các cơ quan chuyên môn như cấp huyện, cấp tỉnh, mà chỉ bố trí từ 01 đến 02 công chức (tuỳ vào tiêu chí xếp loại xã) để thực hiện chức trách tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
Vì vậy, công chức cấp xã là người có vị trí rất quan trọng, là người thực thi các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, là người phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân lên cấp trên; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn, 10 Luan van phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước. Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, ở đâu công chức cấp xã gần dân, hiểu dân, am hiểu phong tục, tập quán, văn hoá địa phương, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của dân thì ở đó chính quyền sẽ đề ra những chính sách và tổ chức thực hiện các chính sách đúng, hiệu quả; ngược lại ở đâu mà công chức cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa dân thì ở đó việc đề ra và tổ chức thực hiện các chính sách sẽ không phù hợp, hiệu quả thấp, thậm chí có thể trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xuất phát từ đặc điểm của mình, công chức cấp xã có những vị trí, vai trò sau: - Là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó. Đồng thời, là người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở thực tiễn sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
- Là người giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân và có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển KT - XH, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Như vậy, với tư cách là một bộ phận quan trọng, chiếm số lượng tương đối lớn, nên công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc quản lý nhà nước ở cơ sở. Tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã Tiêu chuẩn công chức là một hệ thống các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, trình độ cần phải có để đảm nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ theo chức danh đảm nhận. Xác định tiêu chuẩn là cần thiết và quan trọng trong việc bảo đảm năng lực công chức cấp xã.
Trong thực tiễn, các cơ quan quản lý đều căn cứ vào tiêu chuẩn công chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, đánh giá, quy hoạch, ĐTBD, sử dụng và quản lý công chức. Ở một mức độ nhất định có thể coi tiêu chuẩn công chức là nền móng để tạo nên và nâng cao năng lực công chức cấp xã. Về tiêu chuẩn công chức cấp xã hiện nay đang chịu sự điều chỉnh theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/12/2012 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Nhưng trước hết cũng phải tuân theo tiêu chuẩn chung của hệ thống công chức được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Tiêu chuẩn chung là điều kiện cần, mà bất cứ công dân nào muốn tham gia công vụ đều phải hội đủ. Tiêu chuẩn cụ thể là điều kiện đủ, gắn với từng vị trí việc làm cụ thể. Nó thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của ngành, lĩnh vực và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể. * Tiêu chuẩn chung - Đối với công chức Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã hội.
+ Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. + Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực, sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ 12 Luan van được giao. Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. + Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.
- Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an cấp xã: Ngoài những tiêu chuẩn quy định như trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự, giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước [09]. * Tiêu chuẩn cụ thể - Tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã được quy định tại Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/12/2012 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. - Tiêu chuẩn của công chức cấp xã đã được quy định và căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được xem xét, quyết định giảm một cấp về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS, vùng có điều kiện KT - XH đặc biệt khó khăn; đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch ĐTBD để chuẩn hoá chức danh công chức cấp xã theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 2 Thông tư số: 06/2012/TT-BNV ngày 30/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã.
Công 13 Luan van chức cấp xã mới được tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng DTTS; lớp ĐTBD quản lý hành chính nhà nước, lý luận chính trị theo quy định [01]. - Tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn, tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, đánh giá, xếp lương, nâng bậc lương và thực hiện các chế độ, chính sách khác đối với công chức cấp xã. Đặc điểm của công chức cấp xã Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cấp xã là cấp gần gũi với dân nhất, là nền tảng của hành chính; cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi” [22, tr. Nên công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản sau: - Công chức cấp xã được hình thành thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực công tác cụ thể, nên có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định trong công tác.
- Công chức cấp xã là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Chất lượng, năng lực của công chức cấp xã sẽ góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở cấp xã. - Công chức cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân, chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân. Họ là những người gần dân nhất, hiểu được những nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của người dân; thông thạo địa bàn, am hiểu phong tục tập quán.
Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do công chức cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành. - Công chức cấp xã hội tụ rất nhiều vai trò khác nhau mà họ phải thể hiện như: Công dân, đồng hương, bà con, họ hàng; người đại diện cho cộng đồng, đại diện cho Nhà nước. Những vai trò này vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn, xung đột trong mọi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi 14 Luan van phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - Nhà nước. - Công chức cấp xã là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hoá cao theo từng chức danh, nhưng cũng kiêm nhiệm nhiều việc.
Họ là chủ thể hoạt động công vụ ở cấp xã, phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Chức trách, nhiệm vụ của công chức cấp xã Ngày 30/10/2012, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 06/2012/TT- BNV về hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức cấp xã, phường, thị trấn.