phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu chính của luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) theo “mô hình kim cƣơng” Chƣơng 4: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) theo “mô hình kim cƣơng” 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH CANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Dệt may vốn là một trong những mặt hàng truyền thống không chỉ mang lại giá trị cao về kinh tế – xã hội cho Việt Nam mà còn đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc. Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua không ngừng đƣợc tăng lên cả về số lƣợng, chủng loại và giá trị kim ngạch xuất khẩu, đƣa Việt Nam trở thành một trong 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may dẫn đầu thế giới. Do vị trí quan trọng của ngành dệt may trong nền kinh tế quốc dân và những biến động không ngừng của tình hình kinh tế thế giới nên vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đã và đang nhận đƣợc sự quan tâm, chú ý của đông đảo các cấp, các ngành, các nhà quản lý và các nhà khoa học.
Cho đến nay đã có rất nhiều cuộc thảo luận, buổi hội nghị hội thảo, công trình nghiên cứu về chủ đề này; trong số đó có một số bài nghiên cứu tiêu biểu đã đƣợc đăng trên các báo, tạp chí nhƣ: Dƣơng Thị Thúy Hà, 2010. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam. Kinh tế và Dự báo, số 15, trang 3. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng của hàng dệt may Việt Nam trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến năm 2010.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Trong đó có một số giải pháp thuộc về nhà nƣớc nhƣ: Hoàn thiện môi trƣờng kinh tế, pháp luật; chính sách huy động vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội dệt may; và một số giải pháp về phía ngành là: tổ chức hệ thống thông tin; đẩy mạnh công tác xúc tiến 4 thƣơng mại, phát triển nguồn nhân lực, tăng cƣờng liên kết doanh nghiệp, nâng cao chất lƣợng và hạ giá thành sản phẩm. Nguyễn Thùy Lan, 2010. Năng lực cạnh tranh của ngành Dệt – May Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên các khía cạnh: cạnh tranh nội lực và so với đối thủ. Từ đó thấy đƣợc những mặt mạnh và những mặt còn tồn tại của ngành, đề xuất những phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của ngành dệt – may Việt Nam trong những năm từ sau 2010. Sức cạnh tranh của sản phẩm dệt – may ở tầm ngành công nghiệp và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tác giả chỉ đề cập đến tính cạnh tranh của sản phẩm dệt – may Việt Nam so với một số đối thủ tiêu biểu nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nƣớc châu Á khác trên thị trƣờng Mỹ, EU, Nhật Bản và Đông Âu. Võ Phƣớc Tấn, 2007. Các giải pháp chiến lƣợc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế: Trƣờng ĐH Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh, số 3, trang 4. Bài viết đã đánh giá thực trạng của hàng dệt may Việt Nam. Tác giả cho rằng bộ máy hành chính nƣớc ta cồng kềnh với các yêu cầu về thủ tục hành chính rƣờm rà và phức tạp là một trở ngại cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành kinh tế. Sự chậm chễ trong việc phê duyệt, cấp phép đầu tƣ cho các dự án khiến các dự án sản xuất rơi vào tình trạng ngƣng đọng vốn lâu và kém hiệu quả.
Ngoài ra, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu với nhiều loại thủ tục xuất nhập khẩu phức tạp cũng ảnh hƣởng đến xuất khải của ngành dệt may. Ví dụ nhƣ một số mặt hàng và nguyên liệu của ngành dệt may đƣợc nhập khẩu thƣờng xuyên, nhƣng mỗi lần nhập lại phải qua các khâu kiểm 5 định chất lƣợng với thời gian giám định kéo dài làm phát sinh chi phí lƣu kho, chậm tiến độ sản xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh trong khi mặt hàng dệt may lại mang tính thời vụ ngắn hạn. Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệp dệt may đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nƣớc ta đã là thành viên của WTO, ngƣời viết đã kiến nghị và đề xuất một số giải pháp chiến lƣợc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới. Nguyễn Bằng Việt, 2012.
Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối cảnh hội nhập WTO. Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế. Việc gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO và Khu vực mậu dịch tự do AFTA đem đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng nhƣ nhiều thách thức. Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có thể vƣơn ra tầm thế giới.
Doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm thị phần cho sản phẩm của mình, nhƣng phải nâng cao năng lực để có thể đƣơng đầu với các đối thủ đến từ các quốc gia sản xuất nhiều sản phẩm dệt may tryền thống nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc. Bài viết tập trung đƣa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để có thể cạnh tranh đƣợc với các doanh nghiệp dệt may khác trên thị trƣờng EU trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt. Các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và đƣa ra những cái nhìn tổng quan về thực trạng ngành dệt may Việt Nam đang ở mức độ phát triển ra sao, các giải pháp các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Việt Nam nên nhƣ thế nào. Một số nghiên cứu đã đề cập đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam nhƣng mới chỉ tập trung vào sức cạnh tranh nội lực của ngành thông qua thực trạng xuất khẩu dệt may vào một số thị trƣờng trọng điểm mà chƣa đi vào xem xét 6 toàn diện và đầy đủ các tố về yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lƣợc và cấu trúc doanh nghiệp, sự hỗ trợ của chính phủ và yếu tố thời cơ.
Trong khi đó các yếu tố này có mối tƣơng quan mật thiết với nhau và chúng tác động qua lại lẫn nhau. Muốn đạt đƣợc thành công cao nhất trong lĩnh vực may mặc thì Việt Nam phải có các nhân tố này ở trạng thái thuận lợi nhất. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm phổ biến nhƣng ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khái niệm cạnh tranh đƣợc tiếp cận và trình bày dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Từ góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì có thể hiểu cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm vì mục đích giành đƣợc sự tồn tại, sống còn, giành đƣợc lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thƣởng hay những thứ khác. Dƣới thời Chủ nghĩa tƣ bản phát triển vƣợt bậc, Marx đã quan niệm: “Cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và mua bán hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu thêm về sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa, Marx đã tìm ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Quy luật đó là nếu ngành nào hoặc lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều ngƣời để ý và tham gia; ngƣợc lại, những ngành hoặc lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô và sự rút lui của các nhà đầu tƣ.
Tuy nhiên, sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tƣ không phải là dễ dàng, vội vã một sớm một chiều mà là cả một chiến lƣợc lâu dài đòi hỏi sự nghiên cứu, tính toán kỹ lƣỡng. 7 Chủ nghĩa tƣ bản phát triển đến đỉnh điểm thì chuyển sang thời kỳ Đế quốc chủ nghĩa rồi sau đó suy vong. Ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của sự ổn định và xu hƣớng chính là hội nhập, hòa đồng giữa các nền kinh tế trong một cơ chế hoạt động mang tính thị trƣờng năng động và có sự quản lý điều tiết của nhà nƣớc nên khái niệm cạnh tranh mất dần đi tính giai cấp, tính chính trị nhƣng về bản chất vẫn không thay đổi. Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh hay lợi nhuận.
Dƣới góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những ngƣời sản xuất với những ngƣời tiêu dùng khi ngƣời sản xuất muốn bán đắt, ngƣời tiêu dùng muốn mua rẻ; giữa ngƣời tiêu dùng với nhau để mua đƣợc hàng rẻ hơn; giữa những ngƣời sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yếu tố trong cơ chế vận động của thị trƣờng. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lƣợng ngƣời cung ứng càng đông thì cạnh tranh canh gay gắt.
Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trƣờng, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa.