Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của quảng cáo truyền hình Việt Nam trong kỷ nguyên số Chương 2: Đánh giá về sự phát triển và năng lực cạnh tranh của thị trường quảng cáo truyền hình Việt Nam trong kỷ nguyên số Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của quảng cáo truyền hình trong kỷ nguyên số 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA QUẢNG CÁO TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN SỐ 1. Khái quát chung về quảng cáo, năng lực cạnh tranh của quảng cáo truyền hình Việt Nam 1. Các khái niệm cơ bản về quảng cáo Ngày nay, trên thế giới quảng cáo đã trở thành một phần hông thể tách rời cuộc sống hàng ngày của con người. Nó xuất hiện hắp nơi, gõ cửa đến các góc cạnh của cuộc sống đời thường.
Mặc dù được áp dụng phổ biến trên thế giới, nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa nào mang tính chất hái quát, chung nhất về một nghiệp vụ vốn mang trong mình những nội hàm đầy phức tạp và tinh vi như nghiệp vụ quảng cáo. Do vậy, ở mỗi quốc gia hác nhau, ở mỗi hiệp hội hác nhau, trong mỗi nền inh tế hác nhau, hái niệm về quảng cáo lại được trình bày và được hiểu theo những cách hác nhau. Ở những nước phát triển, đặc biệt là ở Hoa ì, quảng cáo đã trở thành một ngành công nghiệp -ngành công nghiệp quảng cáo. Theo hiệp hội quảng cáo Mĩ American Advertising Association , một hiệp hội quảng cáo lâu đời và uy tín trên thế giới thì quảng cáo là quảng bá thương hiệu, hàng hóa có chủ đích rõ ràng, có thu phí và hông công ích đến một cá nhân nào cả.
Philip otler, một trong những cây đại thụ trong ngành Mar eting nói chung và ngành quảng cáo nói riêng trên thế giới lại đưa ra những hái niệm hác nhau về quảng cáo. Trong cuốn sách “Mar eting căn bản”, năm 1998, nhà xuất bản thống ê, trang 376, ông định nghĩa: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí” [56]. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, trong giáo trình “Quản trị Mar eting” Mar eting Management) của mình, Philip otler lại đưa ra một hái niệm hác về quảng cáo: “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất định trả tiền. Một cách định nghĩa đơn giản hơn, theo giáo trình nguyên lý Mar eting của trường Đại học Ngoại Thương, “Quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ dẫn đến hành động mua những sản phẩm dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và để xuất.
Việt Nam là một quốc gia mới bước vào nền inh tế thị trường từ cuối những năm 1980, ngành công nghiệp quảng cáo đang dần được hình thành và cũng có rất nhiều những hái niệm hác nhau về hoạt động quảng cáo. Theo Pháp lệnh về quảng cáo số 39/2001 PL- UBTVQH10 ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, quy định: “Hoạt động quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, biểu tượng theo nhu cầu hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”. Trong hi đó, Giáo trình Nghiệp vụ quảng cáo và tiếp thị, định nghĩa quảng cáo như sau: “Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính phi cá nhân về sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hay ý tưởng do bên thuê mua thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục hay ảnh hưởng tới hành vi của một số đối tượng nào đó”. Các hái niệm về quảng cáo nêu trên tuy có một số điểm hác nhau về ngôn ngữ cũng như cách thể hiện, song nhìn chung vẫn thể hiện được những đặc tính cơ bản của quảng cáo.
Những đặc tính đó là: Quảng cáo là một thông điệp được đáp lại, quảng cáo thường đưa ra thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, quảng cáo nhằm mục đích thông báo thuyết phục mọi 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người về một sản phẩm hay dịch vụ để họ quan tâm, từ đó tạo dựng tin tưởng rồi tiến tới mua sản phẩm hay dịch vụ đó. Trong một thế giới inh doanh canh tranh hốc liệt, quảng cáo đã, đang và sẽ vẫn là một trong năm vũ hí đắc lực chủ yếu của hoạt động yểm trợ trong hoạt động Mar eting hỗn hợp1 mà hầu hết các công ty sử dụng để truyền bá, thuyết phục và sau cùng là bán được hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng. Có thể thấy, ết quả cuối cùng của hoạt động quảng cáo giúp tăng lượng bán, tối đa hóa doanh thu, lợi nhuận cho người cung ứng hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng, đồng thời đó là sự chủ động của người tiêu dùng hi lựa chọn hàng hoá, dich vụ, giúp tối thiểu hoá thời gian thu thập, tìm iếm thông tin về các hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng cần. Quảng cáo truyền hình Quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người.
Quảng cáo trên truyền hình bắt đầu phổ biến từ những năm 50 của thế kỉ XX, và nó phát triển bùng nổ cùng với những bước tiến của kinh tế xã hội hiện đại. Cùng với sự thành công của ngành công nghiệp truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của mọi người. Quảng cáo trên truyền hình là một bộ phận của hoạt động quảng cáo và xúc tiến kinh doanh, vì vậy bản thân nó có nhiều đặc điểm tương tự như các hoạt động này. Tuy nhiên, khái niệm về quảng cáo trên truyền hình có phạm vi nhỏ hơn so với các khái niệm của quảng cáo nói chung.
Phim quảng cáo (hoặc gọi là nội dung QCTH, theo thuật ngữ tiếng Anh là Television Advertisement hay Television Commercial viết tắt TVAd hay 1 5 vũ hí bao gồm: Quảng cáo, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm, quan hệ công chúng và xúc tiến bán hàng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TVC) là một dạng phim hay tiết mục được dàn dựng sản xuất, lưu hành trên những phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau và phải trả phí bởi những công ty, tổ chức, hội đoàn muốn quảng bá một thông điệp nào đó, thường là để quảng cáo hay khuyến mại một món hàng nào hoặc cổ động, phổ biến điều gì đó. Ban đầu, những TVC này được chiếu trên truyền hình như tên gọi theo tiếng Anh), nhưng sau này dịch vụ phát triển thành phim QCTT trên các phương tiện truyền thông đa phương tiện hác như: web tư nhân, web thương mại hoặc trang web dịch vụ (Youtube, Yahoo) trên hệ thống mạng, hoặc chiếu trong rạp hát, rạp chiếu phim trước, sau hoặc giữa những phim chính), trong siêu thị hoặc những nơi công cộng. Sự phong phú của TVC ngày nay bao gồm những quảng cáo ngắn, có độ dài từ vài giây đến nhiều phút cũng như các chương trình quảng cáo cung cấp thông tin đặc biệt trong thời gian dài khác. Hình thức quảng cáo cũng được sử dụng phong phú, từ những hoạt hình, Flash trên web, đến phim video, phim nhựa.
Một số hình thức quảng cáo khác 1. Quảng cáo trực tuyến Cũng như các loại hình quảng cáo hác, quảng cáo trực tuyến QCTT) nhằm cung cấp thông tin, đẩy nhanh tiến độ giao dịch giữa người mua và người bán. Tuy nhiên QCTT hác hẳn quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, nó giúp người tiêu dùng có thể tương tác với quảng cáo. hách hàng có thể nhấn vào quảng cáo để lấy thông tin hoặc mua sản phẩm cùng mẫu mã trên quảng cáo đó, thậm chí họ còn có thể mua cả sản phẩm từ các quảng cáo online trên Website.
QCTT đã tạo cơ hội cho các nhà quảng cáo nhắm chính xác vào hách hàng của mình, và giúp họ tiến hành quảng cáo theo đúng với sở thích và thị 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiếu của người tiêu dùng. Đồng thời, các nhà tiếp thị trên mạng có thể theo dõi hành vi của người sử dụng đối với nhãn hiệu của họ và tìm hiểu sở thích cũng như mối quan tâm của những hách hàng triển vọng. QCTT còn có tính linh hoạt và hả năng phân phối rộng rãi. Một quảng cáo trên mạng được truyền tải 24/24 giờ một ngày, cả tuần, cả năm.
Hơn nữa, chiến dịch quảng cáo có thể được bắt đầu cập nhật hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào. Nhà quảng cáo có thể theo dõi tiến độ quảng cáo hàng ngày, xem xét hiệu quả quảng cáo ở tuần đầu tiên và có thể thay thế quảng cáo ở tuần thứ hai nếu cần thiết. Điều này hác hẳn iểu quảng cáo trên báo chí, chỉ có thể thay đổi quảng cáo hi có đợt xuất bản mới, hay quảng cáo ti vi với mức chi phí rất cao cho việc thay đổi quảng cáo thường xuyên. QCTT có ưu thế trong hả năng tương tác.
Mục tiêu của nhà quảng cáo là gắn hách hàng triển vọng với nhãn hiệu hoặc sản phẩm của họ. Điều này có thể thực hiện hiệu quả trên mạng, vì hách hàng có thể tương tác với sản phẩm, iểm tra sản phẩm và nếu thoả mãn thì có thể mua. Ví dụ, một quảng cáo cho phần mềm máy tính có thể đưa hách hàng tới nơi trưng bày sản phẩm để lấy thông tin và iểm tra trực tiếp. Nếu hách hàng thích phần mềm đó, họ có thể mua trực tiếp.
hông có loại hình thông tin đại chúng nào lại có thể dẫn hách hàng từ lúc tìm hiểu thông tin đến hi mua sản phẩm mà hông gặp trở ngại nào như mạng internet. Ngoài ra QCTT còn có một ưu điểm hác đó là chi phí rẻ hơn quảng cáo trên báo giấy và trên truyền hình rất nhiều. Quảng cáo trực tiếp Quảng cáo trực tiếp là một hình thức gửi thông điệp quảng cáo… đến các nhóm hách hàng mục tiêu đã được xác định trước qua từng hu vực, từng đối tượng bằng nhiều hình thức (ví dụ: điện thoại trực tiếp, thư trực tiếp, biển bảng, tờ rơi, poster…. Quảng cáo trực tiếp thường bao gồm những thông tin thuyết phục hách hàng èm theo chính sách huyến mãi hoặc chiết 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.