chương 1 của bài nghiên cứu đề cập đến tính cấp thiết của các hoạt động quảng bá sản phẩm đối với ngành ngân hàng. Từ đó, tác giả tổng hợp được các nhân tố tác động đến hoạt động quảng bá sản phẩm tín dụng của BIDV. Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, tác giả đặt ra những câu hỏi nghiên cứu để tóm lược lại vấn đề và sau đó, tác giả xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu cụ thể để có thể xác định rõ quy trình của đề tài và tìm ra đáp án cho từng câu hỏi nghiên cứu. Không chỉ thế, tác giả áp dụng các phương pháp để tìm kiếm và tổng hợp các dữ liệu và cuối cùng là đưa ra được các hàm ý quản trị để nghiên cứu có thể đóng góp cho cả khoa học lẫn đời sống thực tế.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Khái niệm về sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng TMCP Cạnh tranh trong ngành ngân hàng TMCP là quá trình mà các ngân hàng cố gắng cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng thông qua các sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, chi phí cạnh tranh, sáng tạo và chất lượng phục vụ. Nhưng năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại có tính chất khác biệt so với các ngành kinh tế khác bởi vì sản phẩm kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Có một số ý kiến về năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng như sau: Theo Nguyễn Thị Quy (2005, p.
22) định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục đồng thời đảm bảo sự an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh" Tác giả Lê Thị Vân Anh (2007) đã đề cập đến khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: “Về năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng cung ứng tốt nhất các dịch vụ kinh doanh tiền tệ nhằm duy trì và phát triển lợi nhuận, thị phần của ngân hàng đó một cách bền vững” Tác giả Nguyễn Xuân Bá (2018) đưa ra khái niệm rằng: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng duy trì và mở rộng mạng lưới, thị phần, thương hiệu, lợi thế vốn có nhằm gia tăng lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh, thị phần của ngân hàng và đảm bảo hoạt động an toàn, có khả năng chống đỡ trước các biến động của thị trường trên cơ sở các lợi thế so sánh của ngân hàng mình” Từ các khái niệm trên, ta thấy được năng lực cạnh tranh của NHTM phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng vẫn dẫn đến một mục đích đó là ngân hàng đạt được hiệu quả kinh doanh, giành phần thắng về phía mình và duy trì được hình ảnh, thương hiệu trên thị trường. Chính vì thế, tác giả đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả 9 năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng và hiệu quả, không ngừng cải tiến dịch vụ, sản phẩm bằng cách áp dụng công nghệ tiên tiến để thu hút khách hàng và các đối tác, có khả năng quản lý rủi ro tốt để duy trì tính chuyên nghiệp trong các chiến lược kinh doanh và không ngừng xây dựng mạng lưới chi nhánh rộng khắp để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm tín dụng và phân loại: Tín dụng ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: Phân loại theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Tín dụng trung hạn: Kéo dài từ 1 năm đến 5 năm.
Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 5 năm. Phân loại theo hình thức: Chiết khấu thương phiếu: Đây là hình thức mà ngân hàng ứng trước một khoản tiền cho khách hàng, tương đương với giá trị của thương phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của ngân hàng. Mặc dù về mặt pháp lý, ngân hàng không trực tiếp cho vay, nhưng về bản chất, việc ngân hàng ứng tiền trước để thu lại một khoản lớn hơn trong tương lai được coi như một dạng tín dụng. Cho vay: Ngân hàng cung cấp một khoản tiền cho khách hàng với cam kết rằng khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong thời gian quy định.
Bảo lãnh: Ngân hàng cam kết sẽ đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thể thanh toán hoặc vi phạm hợp đồng. Mặc dù ngân hàng không trực tiếp chi tiền, nhưng họ chấp nhận rủi ro để đổi lại lợi ích tài chính. Cho thuê: Ngân hàng mua tài sản và cho khách hàng thuê theo các điều khoản đã thỏa thuận. Sau một khoảng thời gian nhất định, khách hàng sẽ trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
10 Phân loại theo tài sản đảm bảo: Tín dụng có đảm bảo: Ngân hàng yêu cầu tài sản đảm bảo cho khoản vay, cho phép họ thu hồi nợ bằng cách bán tài sản này nếu khách hàng không thể trả nợ. Tín dụng không có đảm bảo: Thường được cấp cho khách hàng có uy tín, tài chính vững mạnh, hoặc cho các khoản vay nhỏ. Đôi khi, tín dụng không có đảm bảo cũng được cấp cho các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ hoặc cho các tổ chức tài chính lớn. Các phân loại khác: Theo ngành kinh tế: Như công nghiệp, nông nghiệp,… Theo đối tượng tín dụng: Như tài sản lưu động, tài sản cố định.
Theo mục đích: Như sản xuất, tiêu dùng. Những cách phân loại này cho thấy sự đa dạng và chuyên môn hóa trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng hóa, ngân hàng có thể mở rộng phạm vi tài trợ, đồng thời duy trì các lĩnh vực mà họ có lợi thế. Chiến lược sản phẩm tín dụng trong hoạt động quảng bá ngân hàng.
Chiến lược sản phẩm tín dụng trong hoạt động quảng ngân hàng có thể hiểu là một kế hoạch dài hạn, định hướng các mục tiêu và hoạt động liên quan đến tín dụng mà ngân hàng thương mại cần thực hiện để đạt được sự thành công bền vững. Theo quan điểm truyền thống, chiến lược được định nghĩa là việc xác định những mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, cùng với việc triển khai các hành động cụ thể và phân bổ nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này. Chiến lược có thể coi như là con đường mà doanh nghiệp chọn để hướng tới tương lai, nhằm đạt được và duy trì thành công trong môi trường kinh doanh. Trong lĩnh vực tín dụng của ngân hàng, chiến lược sản phẩm tín dụng là một kế hoạch tổng quát và dài hạn, nhằm định hướng các hoạt động tín dụng để đạt được 11 những mục tiêu đã đề ra.
Việc thực hiện chiến lược này đòi hỏi ngân hàng phải xác định rõ ràng các mục tiêu dài hạn, cùng với đó là các chính sách và biện pháp cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó. Quản trị chiến lược trong lĩnh vực này đặc biệt chú trọng đến việc dự báo và chủ động đối phó với những biến đổi của môi trường kinh doanh. Điều này giúp ngân hàng chuẩn bị các giải pháp tấn công để tận dụng cơ hội và giảm thiểu các rủi ro có thể phát sinh. Do tính chất dài hạn của chiến lược sản phẩm tín dụng, việc xây dựng, triển khai và đánh giá chiến lược yêu cầu sự thận trọng và chi tiết từ phía các nhà lãnh đạo và hoạch định của ngân hàng.
Các nhà quản lý cần phải phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, dựa trên việc phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng cũng như những thách thức từ môi trường bên ngoài. Triển khai chiến lược theo một trình tự thời gian hợp lý, cùng với việc thường xuyên đánh giá và điều chỉnh kịp thời, là yếu tố then chốt để đảm bảo sự thành công và hiệu quả của chiến lược sản phẩm tín dụng. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU 2. Các nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Xuân Bá (2018) đã thông qua 02 mô hình lý thuyết điển hình về năng lực cạnh tranh của Michael Porter và mô hình của Victor Smith để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh trạnh trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Bình Tây Sài Gòn.
Kết quả từ 02 mô hình tiền đề trên đó là tác giả xác định được 7 nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng BIDV: Sản phẩm; Thương hiệu; Năng lực tài chính; Năng lực quản trị; Vốn trí tuệ, Dịch vụ; Công nghệ và cuối cùng là Mạng lưới. Sau khi xác định được các nhân tố tác động đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cũng như kiến nghị để Ngân hàng BIDV nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mà còn trong những hoạt động như: hoạt động huy động vốn, hoạt động mở thẻ, 12 hoạt động ngân hàng điện tử, hoạt động ngân hàng bán lẻ. Nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao và Hồ Thị Hồng Oanh (2017) về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietinbank – Chi nhánh Quảng Trị” đã thông qua phỏng vấn 249 khách hàng tửng có giao dịch với chi nhánh, kêt hợp với phân tích cạnh tranh bằng mô hình IFE, EFE, QSPM, SWOT và phân tích giá trị trung bình các biến quan sát đã cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của VietinBank – chi nhánh Quảng Trị: Năng lực mạng lưới phân phối; Năng lực sản phẩm và thị phần; Năng lực nhân viên; Năng lực đáp ứng nhu cầu khách hàng; Năng lực quản trị. Từ kết quả trên, tác giả đã đề xuất các giải pháp về năng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải pháp về đầu tư phát triển công nghệ, giải pháp về vốn, giải pháp về việc mở rộng mạng lưới tại Vietinbank Quảng Trị, giải pháp về hoàn thiện chính sách marketing.