Đặt vấn đề về đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Xếp hạng tín dụng là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh do John Moody đƣa ra vào năm 1909 trong cuốn “cẩm nang chứng khoán đƣờng sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC đƣợc xếp lần lƣợt là Aaa đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế). Theo Standards & Poor: XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lƣợng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn. [28, g] Theo Moody's: XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lƣợng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa cho 7 z đến C. [28, h] Tuy nhiên xếp hạng tín dụng chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ.
Thời kỳ này chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tƣ (các quỹ hƣu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tƣ mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dƣới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín dụng. Những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín dụng ngày một lên cao. Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín dụng chỉ đƣợc phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín dụng mới đƣợc mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nƣớc. Phân tích, đánh giá doanh nghiệp là việc phân tích quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phân chia các hiện tƣợng, các quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành để nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, bằng các phƣơng pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hƣớng phát triển của các hiện tƣợng nghiên cứu [3], [16]. Xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp (gọi tắt là XHTD doanh nghiệp) tại ngân hàng là việc so sánh đối chiếu với các sự vật hiện tƣợng đã đƣợc phân tích theo một số tiêu chuẩn chung nào đó, để đƣa ra vị trí, thứ hạng của hiện tƣợng đó trong tập hợp so sánh. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các quy trình đánh giá khách hàng trên cơ sở định tính và định lƣợng về mặt tài chính, tình hình kinh doanh, quản trị, uy tín của khách hàng [19]. Việc phân tích, đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp mặc dù là hai công đoạn thực hiện độc lập nhƣng nó có mối quan hệ mật thiết hữu cơ, phân tích doanh nghiệp là tiền đề, cơ sở cho việc xếp hạng doanh nghiệp.
8 z Nếu chỉ tính phân tích đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không kể đến khâu xếp loại thì việc phân tích đánh giá diễn ra rất phổ biến, thƣờng xuyên tại các cơ quan quản lý doanh nghiệp, tại các doanh nghiệp và tại các nhà đầu tƣ, các cơ quan nghiên cứu kinh tế. Tài liệu về phân tích đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng rất nhiều, rất đa dạng, phong phú. Tuy vậy, cũng chƣa có một cơ quan chức năng nào đƣa ra một phƣơng pháp cùng với hệ thống chỉ tiêu phân tích thống nhất. Nhìn chung thuật ngữ xếp hạng tín dụng doanh nghiệp (Credit ratings) là một thuật ngữ mới mẻ ở Việt Nam.
Hiện nay tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng mà thuật ngữ “credit ratings” có tên gọi khác nhau. Có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín dụng nội bộ”, có ngân hàng gọi là “chấm điểm tín dụng”, có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín nhiệm”…thực ra bản chất thì đều giống nhau, nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tƣơng lai của khách hàng dựa trên hệ thống xếp hạng, là một qúa trình gồm 2 công đoạn: phân tích, đánh giá và xếp hạng. Sau đây gọi chung quá trình này là đánh giá, xếp hạng. [28,e] Đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp trong hoạt động ngân hàng là việc phân tích, xếp hạng các doanh nghiệp là đối tƣợng khách hàng của các NHTM có đặt trong mối quan hệ biện chứng với môi trƣờng kinh doanh, môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội.
Việc đánh giá, xếp hạng đó phải đƣợc dựa trên những thông tin tin cậy, trung thực thu thập đƣợc, với những phƣơng pháp phân tích và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với mục đích nghiên cứu của ngân hàng để làm rõ hơn chất lƣợng hoạt động sản xuất kinh doanh và các nguồn lực, tiềm năng, thấy đƣợc mặt mạnh, mặt yếu nói chung, cũng nhƣ đƣa ra những vấn đề mà ngân hàng quan tâm đó là khả năng trả nợ của doanh nghiệp hay xác định đƣợc những doanh nghiệp thực sự có tiềm năng phát 9 z triển nhƣng đang thiếu vốn đầu tƣ; đồng thời cũng dự báo lƣờng đón những khả năng rủi ro tín dụng để các NHTM kịp thời đƣa ra những quyết sách phù hợp nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh và đƣa ra thông tin bổ sung cho NHNN trong công tác quản lý, hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ. Nhƣ vậy, có thể gọi quá trình này là đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. [11], [16] Bản chất của việc đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một doanh nghiệp đối với khoản vay nhất định nhƣ trả lãi và gốc nợ vay khi đến hạn, nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng doanh nghiệp và đƣợc xác định thông qua qui trình đánh giá bằng thang điểm, tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định và phù hợp với thông lệ quốc tế trên cơ sở dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của doanh nghiệp đó tại thời điểm đánh giá.
Sự cần thiết của việc đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Đối với NHTM Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì nhu cầu về dịch vụ tài chính - ngân hàng ngày càng tăng và để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi hoạt động của các NHTM phải ngày càng phát triển và hoàn thiện. Đặc thù của các NHTM là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, là một trong những lĩnh vực phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất trong nền kinh tế. [19] Để giảm thiểu rủi ro, việc nhìn nhận, đánh giá về khách hàng vay vốn là rất quan trọng đối với các NHTM, nó là cơ sở để lựa chọn và phân loại khách hàng, từ đó đề ra chính sách tín dụng hợp lý, giảm tỷ lệ nợ xấu, giảm rủi ro hoạt động cho các NHTM. Có nhiều loại rủi ro khác nhau trong hoạt động của các NHTM nhƣ rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro thị trƣờng, rủi ro tín dụng.[28,a], [28,b] Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ phân tích rủi ro 10 z tín dụng, loại rủi ro chính trong hoạt động của các NHTM.
Rủi ro của các NHTM có thể xuất phát từ nhiều phía, do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan… Trong đó, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến rủi ro tín dụng của các NHTM là từ phía ngƣời vay nợ mà chủ yếu là các doanh nghiệp. Nó xuất phát từ việc các doanh nghiệp hoạt động thua lỗ kéo dài, sự thua lỗ kéo dài dẫn đến tình trạng không thể hoàn trả đƣợc các khoản công nợ, nhất là các khoản nợ vay ngân hàng. Đây là những khoản nợ khó xử lý vì hầu hết có khả năng mất vốn và không có tài sản thế chấp cho món vay. Vì vậy, việc đánh giá, XHTD đối với khách hàng vay vốn là rất quan trọng và cần thiết đối với các NHTM trong hoạt động tín dụng.
Nó giúp cho các ngân hàng trong việc định hƣớng đầu tƣ tín dụng, phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Ngoài ra, nó giúp nâng cao ý thức của doanh nghiệp trong nghĩa vụ thanh toán nợ nhằm tránh bị xếp loại tín dụng với thứ hạng thấp và nhƣ thế sẽ khó tiếp cận đƣợc những khoản vay trong những lần tiếp sau. Ngoài ra, còn phải kể đến nguyên nhân từ phía ngân hàng, có thể do: Không chấp hành đầy đủ chế độ tín dụng và điều kiện cho vay; quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chƣa chú trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phƣơng pháp xem xét phân tích đối với khách hàng còn hạn chế, chƣa chính xác; Kỹ thuật cấp tín dụng chƣa hiện đại, chƣa đa dạng. Xuất phát từ những vấn đề trên cho thấy hệ thống XHTD nội bộ nói chung và XHTD doanh nghiệp nói riêng đƣợc xác định là một công cụ quản lý rủi ro hữu hiệu bởi hệ thống này giúp nhà quản trị đánh giá khách hàng trên một nền tảng nhất quán, xác định đƣợc cơ cấu rủi ro của danh mục cho vay, tạo cơ sở cho việc định giá khoản vay, phát triển tín dụng cũng nhƣ thực hiện lập, phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng.
XHTD sẽ giúp các ngân hàng hạn 11 z chế rủi ro rín dụng, có chính sách khách hàng hợp lý từ đó góp phần tăng lợi nhuận hoạt động. Đối với nền kinh tế Việc phân tích, XHTD doanh nghiệp không chỉ mang lại lợi ích cho các NHTM, nó còn rất có ý nghĩa với nền kinh tế nói chung, thể hiện ở những điểm sau. Thứ nhất, nó thúc đẩy hoạt động của thị trƣờng chứng khoán. Nó là công cụ hữu ích phụ trợ cho các quyết định đầu tƣ.
Đối với các nhà phát hành, nó đƣợc dùng nhƣ là một chiến lƣợc để huy động vốn. Thứ hai, nó đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ để giám sát thị trƣờng tài chính, nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống nói chung. Thứ ba, nó làm tăng tổng vốn đầu tƣ cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp sẽ là cơ sở giúp các doanh nghiệp nƣớc ngoài đang tìm cơ hội đầu tƣ tại Việt Nam có cơ sở để lựa chọn đối tác phù hợp.