Chương 1: Một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Viettel Campuchia Chương 3: Các bài học kinh nghiệm đối với Viettel Campuchia cũng như các doanh nghiệp viễn thông đầu tư ra nước ngoài 6 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự,…Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thuật ngữ cạnh tranh được tiếp cận dưới góc độ kinh tế. Có khá nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh kinh tế, dưới đây là một số quan niệm tiêu biểu: Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lê nin (2002): “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [3, tr.Samuelson “cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần” [2, tr. Theo Michael Porter (1980) “cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp”. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh trong khái niệm này không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh [31, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi các quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”.
7 z Theo Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh - Việt: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hoá tốt nhất”. Các quan niệm trên tuy có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng tựu chung lại thống nhất ở quan điểm cho rằng, mục đích cuối cùng của các bên tham gia cạnh tranh là nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế, tức lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh biểu hiện thông qua các hoạt động kinh tế của con người, lợi nhuận là mục đích, động lực thúc đẩy hoạt động đó. Trong hầu hết trường hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải mục đích cuối cùng.
Cạnh tranh theo các quan niệm trên có các đặc trưng cơ bản sau: Cạnh tranh là mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Chính sự tham gia nhiều chủ thể có cùng mục tiêu tạo lên môi trường, sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp vì mục tiêu tồn tại, phát triển, tối đa lợi nhuận, gia tăng thị phần,… Các chủ thể cạnh tranh phải tuân thủ những quy định ràng buộc chung. Đó có thể là hệ thống luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế; tập quán kinh doanh trên thị trường;… Phương pháp cạnh tranh rất đa dạng và ngày càng được mở rộng. Cạnh tranh không chỉ ở việc bán giá thấp, sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng, mà còn ở dịch vụ chăm sóc khách hàng, chất lượng sản phẩm và có khi chỉ là sự khác biệt riêng trong sản phẩm của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn phương pháp cạnh tranh như thế nào tuỳ thuộc vào sự đánh giá, lựa chọn của doanh nghiệp. Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và không gian không cố định. Trong môi trường kinh doanh sôi động và biến đổi nhanh như hiện nay cạnh tranh ngoài mục đích gia tăng thị phần trên thị trường hiện tại thì còn hướng tới mục tiêu phát triển thị trường mới. Cạnh tranh được sản sinh từ nhu cầu tối đa hoá lợi nhuận, thoả mãn lợi ích kinh tế của con người.
Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trường cạnh 8 z tranh và môi trường cạnh tranh đó được hình thành trong nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, luật pháp cho phép tồn tại nhiều dạng sở hữu, thành phần kinh tế khác nhau cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chủ thể kinh tế khác nhau có khả năng về tổ chức sản xuất, quản lý, các yếu tố đầu vào sản xuất khác nhau và trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, mọi chủ thể kinh tế đều tiến tới tối đa hoá lợi ích và lợi nhuận thì cạnh tranh là điều tất yếu nếu doanh nghiệp không muốn bị đào thải khỏi thị trường. Theo Krugman “Cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp có ranh giới cận dưới rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì không trước thì sau sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản” [2, tr.
Các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá cả tạo môi trường tốt cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện của kinh tế thị trường chưa thực sự vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị trường, đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước. Điều tiết của nhà nước nhằm khắc phục những thất bại của thị trường, tạo điều kiện cho cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả là cần thiết. Các chính sách điều tiết của nhà nước phải thực hiện, xây dựng trên nguyên tắc tạo môi trường cạnh tranh thông thoáng, bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trường gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Phân loại cạnh tranh - Căn cứ theo hình thái cạnh tranh có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong đó giá cả một hàng hoá của doanh nghiệp không có khả năng chi phối thay đổi giá cả hàng hoá đó trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trong đó một số nhà sản xuất có đủ sức mạnh chi phối giá cả sản phẩm trên thị trường. Trong cạnh tranh không hoàn hảo phân ra hai loại độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền.
- Căn cứ theo loại thị trường nơi hoạt động cạnh tranh diễn ra, có cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành được các nguồn lực sản xuất có chất lượng 9 z tốt và chi phí thấp nhất; cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, giành khách hàng. - Căn cứ theo phương thức cạnh tranh, có cạnh tranh bằng giá cả và cạnh tranh phi giá (cạnh tranh bằng chất lượng hàng hoá, thời gian giao hàng, dịch vụ khách hàng, cạnh tranh bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế,. - Căn cứ vào loại chủ thể tham gia cạnh tranh, có cạnh tranh giữa người mua và người bán, cạnh tranh giữa những người bán với nhau và cạnh tranh giữa những người mua với nhau. - Theo phạm vi cạnh tranh, có cạnh tranh nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và cạnh tranh quốc tế.
- Theo cấp độ cạnh tranh, có cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm. Giữa các cấp độ cạnh tranh đó có mối quan hệ tương hỗ và suy cho cùng vẫn là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà chủ thể là doanh nghiệp, ngành, nhà nước mong giành thắng lợi trong cạnh tranh để đạt mục tiêu của mình [2, tr. Năng lực cạnh tranh 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Hiện nay bên cạnh khái niệm năng lực cạnh tranh, người ta còn sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh, tính cạnh tranh và khả năng cạnh tranh. Mặc dù thuật ngữ này có thể mang sắc thái khác nhau và không đồng nhất trong những trường hợp cụ thể nào đó, nhưng cả bốn thuật ngữ đó đều được dịch từ một thuật ngữ tiếng Anh là “competitiveness”. Do vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm năng lực cạnh tranh dưới góc độ đồng nhất các khái niệm sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, tính cạnh tranh và khả năng cạnh tranh. Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại” [27, tr.
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới-World Economic Forum (WEF) trong Báo cáo về năng lực cạnh tranh năm 1991: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả 10 z năng thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm tốt hơn sản phẩm của đối thủ xét về mặt giá cả cũng như các chất lượng phi giá cả khác” [35, p. Theo UNCTAD, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được định nghĩa là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc cũng có thể được định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp; hoặc nó còn được định nghĩa như định nghĩa thông thường là năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra định nghĩa về cạnh tranh kết hợp cả các doanh nghiệp, ngành, và quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo từ điển Đại từ điển Tiếng Việt “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”.