Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài nghiên cứu được chia làm 4 nội dung chính: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt trong giai đoạn 2018-2025.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận. Porter - một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất.
Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ" (misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các học giả. Tổng thuật tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng: bắt đầu từ năm 1990 đến nay lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ "bùng nổ" với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trường phái nghiên cứu nổi tiếng như: Kinh tế học Chamberlin, Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO).
Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) thường dựa trên tiền đề là các DN trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng (Baney,1991). Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh 5 bắt chước, hoặc mua bán trên thị trường nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980). Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,.
đã không còn là lợi thế của DN. Mặt khác, đối tượng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hướng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Theo Sanchez & Heence (1996, 2004) thì năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của DN nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh.
“Năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó” (Sanchez & Heene, 1996, 2004). Như vậy, tiếp cận dựa trên nguồn lực dựa vào lợi thế nguồn lực của DN so với đối thủ cạnh tranh còn tiếp cận dựa trên năng lực thì dựa vào khả năng kết hợp các nguồn lực để tạo ra năng lực - đòi hỏi DN phải năng động, hệ thống, nhận thức và toàn diện trong quản lý chiến lược (Sanchez, 2008). Bản chất của năng lực cạnh tranh đã được chuyển hướng chú trọng vào năng lực thay vì nguồn lực (Sanchez & Heence, 1996, Sanchez, 2001; Freiling & ctg, 2008). Theo quan điểm dựa trên năng lực của DN thì năng lực là chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao (Grant,1996; Jackson, Hitt & DeNisi, 2003; Teece, Pisano & Shuen, 1997; Sanchez & Heence, 1996, 2004; Sanchez, 2008).
Micheal Porter (1980) “Chiến lược cạnh tranh”: Michael Porter là một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho nghiên cứu về cạnh tranh nói chung và chiến lược cạnh tranh nói riêng. Cuốn sách này trình bày một khung lý thuyết toàn diện để giúp doanh nghiệp phân tích toàn bộ ngành của mình và dự báo sự vận động của ngành, hiểu được các đối thủ cạnh tranh và vị trí của bản thân nó để biến những phân tích này thành một chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp cụ thể. Đóng góp 6 ấn tượng nhất của cuốn sách là mô hình “năm lực lượng cạnh tranh” và khung phân tích đối thủ cạnh tranh – là các lý thuyết đang được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích môi trường kinh doanh. Micheal Porter (1985) “Lợi thế cạnh tranh”: Tác giả Micheal Porter tiếp tục trình bày cách thức để một doanh nghiệp có thể tạo lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh.
Cuốn sách đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị (value chain) – là khung mẫu cơ sở để tư duy một cách chiến lược về các hoạt động trong doanh nghiệp, phân loại các hoạt động thành 2 nhóm chính: các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ, sau đó dựa vào chuỗi giá trị tìm hiểu các mối liên kiết nội tại giữa các hoạt động giá trị nhằm mục đích làm giảm chi phí hoặc làm ra tăng sự khác biệt hóa. Tác giả cũng đưa ra cách thức lựa chọn đối thủ cạnh tranh và phân khúc ngành kinh doanh, đồng thời gợi ý về 2 loại chiến lược thực thi để duy trì lợi thế cạnh tranh là chiến lược tấn công và chiến lược phòng thủ. Nghiên cứu của các tác giả Wint. A (2007), về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố rất quan trọng tạo nên khả năng cạnh tranh bao gồm: i) đổi mới; ii) tiêu chuẩn quốc tế; iii) lãnh đạo; iv) tập trung chất lượng; v) đáp ứng cạnh tranh.
Ngoài những yếu tố quyết định nội bộ, các nhà nghiên cứu cũng xác định sự cần thiết cho chiến lược cạnh tranh mạnh mẽ để định vị các doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp trong nước muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ phải hoạt động theo tiêu chuẩn của quốc tế về chi phí, lợi nhuận, chiến lược hiệu quả và phải phù hợp với xu hướng của thị trường quốc tế. Nghiên cứu của Fred R.David (2000): “Khái luận quản trị chiến lược” Đã làm rõ các vấn đề quản trị chiến lược và cách áp dựng chiến lược vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện nay đánh giá tác động yếu tố bên ngoài và bên trong thế nào và yếu tố đó ảnh hưởng ít hay nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua các ma trận đánh giá các yếu tố doanh nghiệp để có thể thấy được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tốt ở mặt nào và mặt nào cần khắc phục. 7 Quan điểm cạnh tranh dựa trên năng lực (Competence-based View - CBV) của DN tập trung vào khả năng sử dụng, kết hợp tài sản, nguồn, năng lực nhằm đạt được tăng trưởng và hiệu quả tổng thể của tổ chức. Nó được phát triển chủ đạo bởi các nghiên cứu của Barney (1991), Wernerfelt (1984), Peteraf (1993), Sanchez & Heene (1996, 2004, 2008, 2010). Đặc biệt, lý thuyết cạnh tranh dựa trên năng lực tương thích với lý thuyết tiến hóa trong việc phân tích các mối tương tác kinh tế giữa DN và môi trường tạo ra thông qua sự ảnh hưởng bởi sự thay đổi liên tục (Freiling, 2004; Freiling & ctg, 2008).
Nổi bật trong quan điểm nền tảng năng lực là giả định rằng môi trường công ty là năng động và do vậy yêu cầu phải xây dựng năng lực và tận dụng năng lực liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh (Sanchez & Heene, 1996). Lý thuyết dựa trên năng lực thông qua một tập hợp các khái niệm nền tảng của các thực thể nguyên thủy mà nó đại diện và sử dụng làm cơ sở cho việc phân tích DN, thị trường và sự tương tác của chúng (cả cạnh tranh và hợp tác). Các thực thể này bao gồm: Tài sản, Khả năng, Năng lực. Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu trong nước khác đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy, qua phần tổng kết các nghiên cứu trên cho thấy các nghiên cứu đều có giá trị và ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên do bối cảnh kinh tế luôn luôn thay đổi nên việc ứng dụng các nghiên cứu trên vào bối cảnh hiện tại sẽ không tránh khỏi một số hạn chế: các nghiên cứu này đã được thực hiện trên cơ sở các DN ở nước ngoài, so với DN Việt Nam có sự khác biệt về đặc điểm và điều kiện nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu tại Việt Nam về NLCT của DN trong những năm gần đây cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu và các các học giả quan tâm. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai hướng chính, đó là: (1) nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao NLCT của DN trong một ngành; (2) nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến NLCT của DN.
8 Nghiên cứu của tác giá Trần Sửu trong cuốn sách Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa năm 2006 đã chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những đặc điểm về cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa, các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.