Thực trạng năng lực của cán bộ can thiệp cho trẻ tự kỷ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued thực trạng năng lực của cán bộ can thiệp cho trẻ tự kỷ luận văn ths tâm lý học lâm sàng trẻ, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2016

113
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ CAN THIỆP CHO TRẺ TỰ KỶ

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ

1.1.2. Các nghiên cứu về năng lực cán bộ can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ

1.1.3. Các khái niệm liên quan

1.1.3.1. Rối loạn phổ tự kỷ
1.1.3.2. Cán bộ can thiệp cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

2.2. Mẫu nghiên cứu

2.3. Tiến trình nghiên cứu

2.3.1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận

2.3.2. Giai đoạn khảo sát thực trạng và xử lý số liệu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

2.4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.4.3. Phương pháp phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp thống kê toán học

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng về kiến thức của cán bộ can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ

3.1.1. Mức độ hiểu biết của cán bộ can thiệp về tự kỷ

3.1.2. Hiểu biết của cán bộ can thiệp về triệu chứng, dấu hiệu của tự kỷ

3.1.3. Hiểu biết của cán bộ can thiệp về nguyên nhân của tự kỷ

3.1.4. Hiểu biết của cán bộ can thiệp về chẩn đoán của tự kỷ

3.1.5. Hiểu biết của cán bộ can thiệp về các yếu tố nguy cơ và triển vọng của tự kỷ

3.2. Thực trạng về kỹ năng của cán bộ can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ

3.3. Thái độ của cán bộ can thiệp trẻ tự kỷ

3.4. Mối quan hệ giữa các đặc điểm của khách thể và kiến thức của cán bộ can thiệp về tự kỷ

3.5. Mối quan hệ giữa đặc điểm của khách thể và kiến thức của cán bộ về tự kỷ

3.6. Mối quan hệ giữa chuyên môn đào tạo với kiến thức và mức độ thành thạo về kỹ năng của cán bộ can thiệp về tự kỷ

3.7. Mối quan hệ giữa các đặc điểm cán bộ can thiệp với kiến thức, thái độ và kỹ năng

3.8. Mối quan hệ giữa các đặc điểm cán bộ can thiệp với năng lực

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ hiện nay

Năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và tâm lý học. Trẻ tự kỷ, với những đặc điểm riêng biệt, cần được can thiệp kịp thời và hiệu quả để phát triển tốt nhất. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Oanh (2016), năng lực của cán bộ can thiệp hiện tại còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng can thiệp cho trẻ tự kỷ.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của năng lực can thiệp

Năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của cán bộ can thiệp. Việc nâng cao năng lực này không chỉ giúp trẻ tự kỷ phát triển mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho trẻ.

1.2. Thực trạng năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam

Theo thống kê, số lượng cán bộ can thiệp cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam đang gia tăng, nhưng chất lượng và năng lực của họ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều cán bộ chưa được đào tạo chuyên sâu về tự kỷ, dẫn đến việc can thiệp không hiệu quả.

II. Những thách thức trong năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc can thiệp cho trẻ tự kỷ, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các cán bộ can thiệp thường gặp khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả.

2.1. Thiếu kiến thức chuyên môn về tự kỷ

Nhiều cán bộ can thiệp không có đủ kiến thức về triệu chứng và đặc điểm của trẻ tự kỷ, dẫn đến việc áp dụng sai phương pháp can thiệp.

2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng

Sự thiếu hụt trong việc hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng cũng là một thách thức lớn. Gia đình cần được trang bị kiến thức để hỗ trợ trẻ tự kỷ một cách hiệu quả.

III. Phương pháp can thiệp hiệu quả cho trẻ tự kỷ

Để nâng cao năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ, cần áp dụng các phương pháp can thiệp đã được chứng minh hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm phân tích hành vi ứng dụng (ABA), mô hình Denver và các phương pháp giáo dục đặc biệt.

3.1. Phân tích hành vi ứng dụng ABA

ABA là một trong những phương pháp can thiệp hiệu quả nhất cho trẻ tự kỷ. Phương pháp này tập trung vào việc thay đổi hành vi thông qua việc sử dụng các kỹ thuật khuyến khích và củng cố tích cực.

3.2. Mô hình Denver

Mô hình Denver là một phương pháp can thiệp sớm, giúp trẻ tự kỷ phát triển kỹ năng xã hội và giao tiếp thông qua các hoạt động chơi và tương tác.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về can thiệp cho trẻ tự kỷ

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả có thể cải thiện đáng kể năng lực của trẻ tự kỷ. Các trung tâm can thiệp đã ghi nhận sự tiến bộ rõ rệt ở trẻ sau khi áp dụng các phương pháp này.

4.1. Kết quả từ các trung tâm can thiệp

Nhiều trung tâm can thiệp đã báo cáo sự cải thiện trong kỹ năng giao tiếp và xã hội của trẻ tự kỷ sau khi áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả.

4.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp

Việc đánh giá hiệu quả can thiệp là rất quan trọng. Các cán bộ can thiệp cần thường xuyên theo dõi và điều chỉnh phương pháp can thiệp dựa trên sự tiến bộ của trẻ.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho năng lực can thiệp

Năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ cần được nâng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ can thiệp và sự hỗ trợ từ cộng đồng.

5.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực can thiệp

Cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ can thiệp, đồng thời tăng cường sự hợp tác giữa các trung tâm can thiệp và gia đình.

5.2. Tương lai của can thiệp cho trẻ tự kỷ

Tương lai của can thiệp cho trẻ tự kỷ sẽ phụ thuộc vào việc áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để cải thiện chất lượng can thiệp.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued thực trạng năng lực của cán bộ can thiệp cho trẻ tự kỷ luận văn ths tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên chương trình đào tạo thí điểm

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích kết quả nghiên cứu. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ CAN THIỆP CHO TRẺ TỰ KỶ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ 1.

Nghiên cứu trên thế giới - Nghiên cứu về nhận biết trẻ Tự kỷ Bác sĩ ngƣời Pháp Jean Marc Itard (1774 - 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên là Victor. Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử xa lạ với cuộc sống của xã hội loài ngƣời. Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức nhƣ trẻ bình thƣờng. Ngày nay, ngƣời ta cho rằng Victor chính là TTK.

Để khắc phục tình trạng này, Itard đã nghĩ rằng giáo dục TTK khác với những trẻ khác [56]. Thuật ngữ tự kỷ (Autism) đƣợc bác sỹ tâm thần ngƣời Thuỵ Sỹ Engen Bleuler (1857 - 1940) đƣa ra năm 1919 để mô tả bệnh nhân Tâm thần phân liệt (schizophrenia), đây là hiện tƣợng mất nhận thức thực tế của ngƣời bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của ngƣời bệnh có xu hƣớng không thống nhất với kinh nghiệm thông thƣờng của họ [52]. Năm 1943, bài báo khoa học Rối loạn tự kỷ của sự tƣơng tác cảm xúc là một công trình nghiên cứu của Leo Kanner về 11 đứa trẻ đƣợc xem nhƣ những trƣờng hợp tự kỷ đầu tiên” (8 trai 3 gái) là trẻ từ 2 - 11 tuổi đã trở thành nền tảng cho những tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ trong DSM IV ở Hoa Kỳ và ICD 10 trên thế giới sau này. Ông cho rằng, TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với ngƣời khác; cách thể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính rập khuôn; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thƣờng rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp); rất thích xoay tròn các đồ vật; có khả năng cao trong quan sát không gian và trí nhớ “nhƣ con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lĩnh vực khác nhau; thích độc thoại trong thế giới riêng của mình, khó khăn trong việc thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề nhƣ cho búp bê ăn, nói chuyện điện thoại, bác sỹ tiêm bệnh nhân; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu: giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát, mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh.

Kanner nhấn mạnh triệu chứng tự kỷ có thể phát hiện đƣợc ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu. Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bƣớc ngoặt trong lịch sử giáo dục trẻ tự kỷ, ngày nay là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nƣớc thế giới [58]. Năm 1944, một bác sỹ tâm thần ngƣời Áo là Hans Asperger (1906 - 1980) sử dụng thuật ngữ s“bệnh thái nhân cách tự kỷ” (autistic psychopathy) (4 bé trai tuổi 6-11) trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai mà ông làm việc. Mô tả của ông nhƣ sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thƣờng, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất “con, tôi” lẫn lộn với ngôi thứ hai và ba.

Trẻ vẫn có những tiếp xúc về mặt xã hội nhƣng có xu hƣớng thích cô đơn, đơn độc. Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rƣờm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học và có khả năng nhớ tốt một cách lạ thƣờng mọi ngƣời lấy tên của ông để đặt tên cho hội chứng này là Asperger. Cũng từ những năm 60 của thế kỷ XX, những hiểu biết về tự kỷ đã có nhữngthay đổi hết sức lớn lao.

Đặc biệt, nghiên cứu của Michael Rutter đã chỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ bị tự kỷ. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, ngƣời ta bắt đầu xem xét đến khái niệm phổ tự kỷ. Trong cuốn sách “Hiện tƣợng tự kỷ”, Lorna Wing (1978) đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỷ liên quan đến nhân vật “sƣ huynh Juniper”. Theo nhận định của bà, ngƣời này có những dấu hiệu tự 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỷnhƣ: không muốn giao tiếp, tiếp xúc; thờ ơ với mọi ngƣời xung quanh, thích những hoạt động nhàm chán lặp đi, lặp lại; không hiểu và đáp lại những tình cảm của ngƣời khác.

Tuy chƣa khẳng định một cách chắc chắn Juniper có bị tự kỷ hay không, nhƣng theo mô tả của Lorna Wing cho thấy một số biểu hiện mà ngày nay chúng ta thƣờng gặp ở TTK. - Nghiên cứu về công cụ chẩn đoán, đánh giá trẻ tự kỷ Năm 1996, Baron - Cohen, Allen và Gilber nghiên cứu công cụ sàng lọc tự kỷ trên hơn 12.000 trẻ ở độ 18 tháng. Sau đó chọn đƣợc 9 dấu hiệu đặc hiệu đƣợc dùng dƣới dạng bộ câu hỏi khẳng định, dễ sử dụng tại các phòng khám nhi, phục hồi chức năng. Bộ câu hỏi này có tên “Bảng đánh giá tự kỷ ở trẻ nhỏ” – CHAT2.

Bộ câu hỏi CHAT này (gồm 9 dấu hiệu) có tính đặc hiệu cao. Nghĩa là trẻ có những dấu hiệu này thì nguy cơ bị tự kỷ cao nhƣng nó lại có độ nhạy thấp. Nghĩa là nếu trẻ bị tự kỷ nhẹ thì có thể các dấu hiệu trên sẽ không quan sát thấy; dẫn tới dễ bỏ sót trẻ bị nhẹ hoặc không điển hình. Vì vậy, năm 2001, Robin, Fein, Barton và Green bổ sung vào công cụ sàng lọc này thêm 14 câu hỏi thuộc các lĩnh vực rối loạn vận động, quan hệ xã hội, bắt chƣớc và định hƣớng.

Bộ câu hỏi bổ sung có tên là M-CHAT, đƣợc dùng để sàng lọc TTK trong độ tuổi 18 - 24 tháng. Hội tâm thần học Mỹ, sau nhiều năm nghiên cứu, trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-5), cho biết các tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ bao gồm những biểu hiện khiếm khuyết về chất lƣợng quan hệ xã hội, chất lƣợng giao tiếp và một số hành vi bất thƣờng. Bảng phân loại quốc tế ICD-10 3 của Tổ chức Y tế thế giới trong “chƣơng F” cũng đƣa ra những tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh tâm thần trong đó bao gồm các tiêu chí đánh giá để chẩn đoán tự kỷ. - Nghiên cứu về phƣơng pháp can thiệp, điều trị cho trẻ tự kỷ 2 Checklist for Autism in Toddlers 3 International Classification of Diseases 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hội thảo “Bệnh tự kỷ ở trẻ em” tổ chức tại bệnh viện Nhi Đồng 1 ngày 10-14/2008 có rất nhiều tổng kết về tình hình trị liệu bệnh tự kỷ.

Cử nhân Hà Thị Kim Yến – trƣởng khoa hồi phục chức năng – vật lý trị liệu, bệnh viện Nhi Đồng 1 đã có báo cáo mang tựa đề: “Tâm vận động và điều hòa cảm giác: phương pháp can thiệp chậm nói cho trẻ có rối loạn phát triển”. Báo cáo đƣa ra kết luận “Cho đến nay vẫn chƣa chữa khỏi tự kỷ. Nhƣng nếu phát hiện sớm và can thiệp sớm thì chất lƣợng cuộc sống của các trẻ này, kể cả vấn đề khó khăn giao tiếp sẽ đƣợc cải thiện”, “Ngoài ra, rất cần có sự can thiệp phối hợp đa chuyên khoa, hoạt động trị liệu, âm ngữ, tâm lý, giáo viên đặc biệt như thế trẻ sẽ nhanh chóng tiến bộ và độc lập trong sinh hoạt, cuộc sống”. Có nhiều phƣơng pháp can thiệp, điều trị đối với trẻ tự kỷ đã đƣợc ứng dụng.

Mỗi phƣơng pháp đều có cơ sở khoa học và cách thức tiếp cận riêng trong can thiệp và điều trị các triệu chứng tự kỷ của từng trẻ cụ thể. Hiệu quả cảu từng phƣơng pháp là khác nhau tùy thuộc vào mức độ hiểu biết và vận dụng linh hoạt của cán bộ can thiệp cho trẻ tự kỷ. Một nghiên cứu có ứng dụng tích cực trong can thiệp sớm cho TTK là “Phân tích hành vi ứng dụng” - ABA4. Dựa vào nguyên lý ABA của Ivar Lovaas vào năm 1990 ở Đại học Los Angeles - California nghiên cứu cho ra đời “Can thiệp hành vi sớm chuyên sâu” – EIBI5.

Kết quả nghiên cứu là cơ sở để hình thành phƣơng pháp can thiệp hành vi, đƣợc dùng để phát huy tối đa khả năng học tập của TTK. ABA là một chƣơng trình can thiệp hành vi của TTK một cách toàn diện trong mọi lĩnh vực liên quan. Tác giả thử nghiệm chƣơng trình can thiệp sớm cho trẻ nhỏ dựa vào gia đình cho trẻ. Các lĩnh vực đó có thể là: xã hội, giao tiếp, tự chăm sóc, vui chơi… Cấu trúc của ABA gồm hai thành phần chính: dạy thử nghiệm các kỹ năng riêng biệt và thay đổi hành vi.

Các nghiên cứu đều cho thấy sự giáo dục phù hợp nhất đối với TTK 4 Aplied Behavior Analyis 5 Early Intensive Behavioral Interventions 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là can thiệp hành vi sớm và tích cực. Trong ABA có nhắc đến các kỹ thuật đƣợc sử dụng trong quá trình can thiệp, giáo dục cho trẻ tự kỷ nhƣ sau: (1) Phân tích nhiệm vụ: Là việc bẻ nhỏ nhiệm vụ mục tiêu, đặc biệt là hành vi phức tạp thành các bƣớc nhỏ hơn và sắp xếp các bƣớc thành chuỗi. (2) Tạo hình hành vi: Là quá trình dần dần sửa hành vi hiện tại của trẻ trở thành hành vi mong muốn bằng sự khuyến khích và củng cố liên tục sự gần đúng mà trẻ thể hiện ở hành vi mới cho đến khi trẻ đã học đƣợc hành vi đó. (3) Củng cố: Theo Fouse và Wheeler (1997), củng cố là đƣợc định nghĩa nhƣ là bất cứ hành động hoặc đồ vật theo một hành vi và làm tăng thêm hành vi đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Năng lực can thiệp cho trẻ tự kỷ: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của việc can thiệp cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam. Nó nêu bật những thách thức mà các gia đình và chuyên gia đang phải đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả can thiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các phương pháp can thiệp, vai trò của các chuyên gia và tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của mình về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu giáo dục đặc biệt viện khoa học giáo dục việt nam. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình của họ. Mỗi tài liệu đều là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của can thiệp cho trẻ tự kỷ, từ đó nâng cao nhận thức và kiến thức của mình trong lĩnh vực này.