Công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ tại Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu giáo dục ðặc, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

143
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ

Công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò quan trọng trong việc can thiệp sớm với trẻ tự kỷ. Nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp CTXH có thể nâng cao hiệu quả can thiệp cho trẻ tự kỷ. Các nhân viên CTXH không chỉ hỗ trợ trẻ mà còn kết nối với gia đình và các chuyên gia khác để tạo ra một môi trường giáo dục tích cực.

1.1. Khái niệm và vai trò của công tác xã hội trong giáo dục

Công tác xã hội trong giáo dục là một lĩnh vực quan trọng, giúp kết nối các nguồn lực hỗ trợ cho trẻ tự kỷ. Nhân viên CTXH có nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ gia đình và tạo điều kiện cho trẻ hòa nhập vào môi trường học tập.

1.2. Tình hình trẻ tự kỷ tại Việt Nam hiện nay

Số lượng trẻ tự kỷ tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê, nhiều trẻ vẫn đang học tại các trường chuyên biệt, điều này cho thấy sự cần thiết của can thiệp sớm và sự tham gia của CTXH.

II. Thách thức trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc can thiệp sớm với trẻ tự kỷ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Thiếu thông tin và nhận thức về tự kỷ trong cộng đồng là một trong những vấn đề lớn. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các lực lượng can thiệp cũng chưa được chặt chẽ.

2.1. Thiếu thông tin và nhận thức về tự kỷ

Nhiều gia đình vẫn chưa hiểu rõ về hội chứng tự kỷ, dẫn đến việc chậm trễ trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ. Điều này ảnh hưởng đến khả năng can thiệp sớm cho trẻ.

2.2. Sự phối hợp giữa các lực lượng can thiệp

Sự thiếu hụt trong việc phối hợp giữa giáo viên, nhân viên CTXH và gia đình làm giảm hiệu quả can thiệp. Cần có một hệ thống hỗ trợ chặt chẽ hơn để đảm bảo trẻ nhận được sự giúp đỡ cần thiết.

III. Phương pháp can thiệp sớm hiệu quả cho trẻ tự kỷ

Các phương pháp can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ cần được áp dụng một cách linh hoạt và phù hợp với từng trẻ. Việc sử dụng các phương pháp như ABA, TEACCH và PECS đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc phát triển kỹ năng cho trẻ.

3.1. Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA

ABA là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong can thiệp trẻ tự kỷ. Phương pháp này giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và hành vi thông qua việc dạy dỗ có hệ thống.

3.2. Hệ thống giáo tiếp bằng trao đổi tranh PECS

PECS giúp trẻ tự kỷ giao tiếp hiệu quả hơn thông qua hình ảnh. Phương pháp này đã được áp dụng thành công tại nhiều trung tâm giáo dục đặc biệt.

IV. Ứng dụng thực tiễn của công tác xã hội trong can thiệp sớm

Công tác xã hội không chỉ dừng lại ở việc can thiệp mà còn bao gồm việc tư vấn cho gia đình và kết nối với các dịch vụ hỗ trợ khác. Việc này giúp trẻ tự kỷ có cơ hội phát triển toàn diện hơn.

4.1. Tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ

Nhân viên CTXH cung cấp thông tin và hỗ trợ cho gia đình trong việc hiểu và chăm sóc trẻ tự kỷ. Điều này giúp gia đình có những quyết định đúng đắn hơn trong quá trình can thiệp.

4.2. Kết nối với các dịch vụ hỗ trợ khác

Việc kết nối với các dịch vụ y tế, giáo dục và xã hội khác là rất quan trọng. Điều này giúp tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc cho trẻ tự kỷ.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong can thiệp sớm

Công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ cần được phát triển hơn nữa. Cần có sự đầu tư vào nghiên cứu và đào tạo nhân viên CTXH để nâng cao hiệu quả can thiệp. Hướng tới một tương lai mà trẻ tự kỷ có thể hòa nhập tốt hơn vào xã hội.

5.1. Đầu tư vào nghiên cứu và đào tạo

Cần có nhiều nghiên cứu hơn về can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ. Đào tạo nhân viên CTXH cũng cần được chú trọng để nâng cao chất lượng can thiệp.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Cộng đồng cần được nâng cao nhận thức về tự kỷ và vai trò của CTXH. Sự tham gia của cộng đồng sẽ tạo ra một môi trường hỗ trợ tốt hơn cho trẻ tự kỷ.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỷ nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu giáo dục ðặc biệt viện khoa học giáo dục việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Thực trạng can thiệp với trẻ tự kỉ. Chương 3: Vai trò của nhân viên CTXH trong CTS với TTK. 9 PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.

Khái niệm công cụ  Công tác xã hội Từ nhiều quan điểm khác nhau CTXH có khá nhiều định nghĩa chưa có sự thống nhất nhất định. Theo Foundation of social work practice: CTXH là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức đô phù hợp trong xã hội. CTXH được coi như một khoa học vì nó được dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh. Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kí năng chuyên môn hóa.8] Theo liên đoàn chuyên nghiệp CTXH quốc tế IFSW (đưa ra tại đại hội Montreal- tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi của xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và sự giải phóng người dân nhằm giúp đỡ cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu.

Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề.9] Theo thầy Lê Văn Phú (2006) CTXH là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội. CTXH còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa góp phần giải quyết những vấn đề xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân nhóm, cộng đồng xã hội, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí vai trò xã hội của mình.9] Tuy nhiên trong khuôn khổ của nghiên cứu xin được sử dụng khái niệm theo hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia như sau: “CTXH là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng trong hoàn cảnh khó 10 khăn để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân”.8]  Tự kỷ Trong gần một thế kỷ qua, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu và kết luận khác nhau về TK. Những khái niệm cũng như các phân loại của loại rối nhiễu này rất đa dạng và đã trải qua nhiều thay đổi theo thời gian.

Sau đây xin được trích dẫn một số quan niệm cổ điển và hiện đại của các nhà khoa học về TK. Quan niệm của Bleuler năm 1911: “TK là khái niệm dùng để chỉ những người bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa mà sống với thế giới của riêng mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui về thế giới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn”.[22] Quan niệm của Kanner: “TK là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống”.[22] Theo bộ bách khoa của Collie: “TK là một rối loạn rất nặng về sự phát triển tâm lý của trẻ em đặc tính chủ yếu là không đáp ứng với người khác và thiếu sự giao tiếp”[27] Quan niệm của Freud: “TK là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại trong cái tôi, có nghĩa là đã trở thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ”.[12] Quan niệm của M. Mahler và Franes Tustin: “TK là biểu hiện cho sự không bình thường xuất phát từ mối quan hệ mẹ con, đó là một cách thức phòng vệ như một cái vỏ bọc gắn với xu hướng bẩm sinh tự bảo vệ khỏi những kinh nghiệm lo hãi ghê sợ từ sự chia cắt với cơ thể mẹ”.[12] Quan niệm của trường phái nhận thức: “TK là những sự thiếu hụt liên quan tới các quá trình tượng trưng hóa, nhất là về trí nhớ và những suy yếu trong sự bộc lộ hoặc trong sự thấu hiểu tình cảm”[12] 11 Theo tác giả Lê Khanh thì “Chứng tự tỏa (hay TK), gọi chung là hiện tượng tự tỏa theo nguyên nghĩa là Tự mình phong tỏa các khả năng quan hệ của mình với bên ngoài. Việt Nam còn gọi là TK hay Tự bế… Tình trạng này có thể xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào, không lệ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ phát triển của cha mẹ.

Theo Autism society of America ( 2005), TK là một rối loạn phát triển có ảnh hưởng trầm trọng trong suốt cuộc đời của một cá nhân. TK thường xuất hiện trong ba năm đầu đời. Năm 2009 trong cuốn “ hỏi đáp về bệnh TK” bác sĩ Quách Thúy Minh cho rằng, “ TK là một rối loạn lan tỏa do bất thường của bộ nào xuất hiện sớm trong những năm tháng đầu đời của trẻ em với biểu hiện đặc trưng ở các lĩnh vưc: kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi” Tuy nhiên trong khuôn khổ của nghiên cứu chúng tôi xin được sử dụng khái niệm TK của liên hợp quốc .Theo liên hợp quốc ( năm 2008) TK là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời. TK là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ.

TK có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu ngh o và địa vị xã hội. TK được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại.  Can thiệp sớm Theo từ điển tiếng việt thông dụng của Nguyễn Như Ý chủ biên can thiệp được hiểu là “dự” vào công việc của người khác tác động theo một hướng nào đó [20]. Theo oxford advanced leraner’s dictionory of cutrrent English cho rằng can thiệp là tham gia vào tình huống theo trật tự nhất định nhằm cải thiện hoặc giúp đỡ.

TTK thường gặp rất nhiều khó khăn hoặc còn phụ thuộc vào người lớn do vậy việc CTS cho trẻ cần phải tác động vào cả người chăm sóc trẻ như vậy khái 12 niệm can thiệp có thể được hiểu rộng hơn như sau: “ Can thiệp vào sự phát triển của trẻ và gia đình trẻ thông qua các biện pháp khác nhau nhằm giúp trẻ phát triển tối đa năng lực của mình và có thể và có thể hòa nhập với xã hội. Khái niệm sớm trong từ điển tiếng việt thông dụng là xảy ra trước thời điểm quy định hoặc so với mọi khi[20]. Theo oxford advanced leraner’s dictionory of cutrrent English thì khái niệm “ sớm” được hiểu là “ đến hoặc làm cái gì đó trước bình thường, trước dự tính hoặc thời gian trong kế hoạch.” Nếu chọn thời điểm bắt đầu cho trẻ học tập làm mốc thì khái niệm sớm cần được hiểu là “xảy ra trước tuổi trẻ bắt đầu hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập” giới hạn sau đó đã rõ vì hoạt động học tập tại trường của trẻ được xác định phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý và đó là khi trẻ đạt 6 tuổi. nhưng trẻ có số tuổi lớn hơn 6 vẫn cần được can thiệp để phát triển các kĩ năng đặc thù giúp trẻ tham gia giáo dục tốt hơn.

Tuy nhiên khi đó trẻ đã lớn hơn độ tuổi trong chương trình CTS [15]. Theo Fallen và Umansky ( 1985) thì CTS là “quá trình tác động vào cuộc sống của trẻ nhỏ bị khuyết tật và giáo dục nhằm thay đổi xu hướng và hệ quả của khuyết tật hay chậm phát triển”. Việc CTS phải được tiến hành trên từng cá nhân nhưng phải kết hợp điểu chỉnh hoặc phối hợp giữa các dịch vụ, chiến lược, kĩ thuật hoặc những đồ dùng cần thiết giúp trẻ phát huy tiềm năng. Trong khuôn khổ của nghiên cứu chúng tôi xin phép được sử dụng khái niệm CTS sau đây: “CTS là một biện pháp giáo dục sớm cho trẻ có khó khăn trong phát triển trí tuệ trước 5 tuổi[32]”.

CTS trong 5 năm đầu nhằm kích thích và huy động tối đa sự phát triển của trẻ làm giảm nhẹ hay khắc phục những khuyết tật của trẻ. Đây chính là sự chuẩn bị quan trọng cho việc học và tiếp tục học lên lớp mẫu giáo sau này của trẻ, đồng thời CTS cũng chuẩn bị tiền đề để trẻ có thể hội nhập tại các trường phổ thông.[32]  Công tác xã hội trong can thiệp sớm với trẻ tự kỉ. CTXH trong CTS với trẻ tự kỉ là tìm hiểu về thực trạng can thiệp sớm, các phương pháp can thiệp, hiệu quả can thiệp sớm và sự tham gia của các lực lượng trong quá trình can thiệp sớm cho TTK. Từ đó NVCTXH xây dựng các biện pháp để tăng cường sự tham gia của các lực lượng trong quá trình can thiệp, tăng cường các biện pháp can thiệp phù hợp với vai trò của từng bộ phận can thiệp sớm cho TTK.

Các lý thuyết nghiên cứu 1. Thuyết hệ thống Thuyết hệ thống được phát trển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng. Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực ( tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học) một hệ thống được định nghĩa là “một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống”. Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống.Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với những hệ thống xung quanh [10,tr.

Có nhiều các khái niệm về hệ thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề xã hội quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực công tác xã hội và giáo dục. Nó nhấn mạnh sự cần thiết phải phòng chống bạo lực học đường, bảo vệ quyền lợi của trẻ em, và thúc đẩy bình đẳng giới trong các gia đình dân tộc thiểu số. Những điểm chính trong tài liệu bao gồm các giải pháp cụ thể để giảm thiểu bạo lực và hỗ trợ các nhóm yếu thế trong cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Phòng chống bạo lực học đường tại trường thpt chúc động huyện chương mỹ thành phố hà nội, nơi cung cấp các giải pháp cụ thể cho vấn đề bạo lực học đường. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ công tác xã hội đối với thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. Cuối cùng, tài liệu Bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã vinh tiền huyện tân sơn tỉnh phú thọ sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề bạo lực gia đình và những tác động của nó đến phụ nữ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề xã hội hiện nay.