Chương 1: Những vấn đề lý luận về năng lực cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã Chương 2: Thực trạng năng lực cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay 6 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ Cán bộ theo nghĩa cơ bản nhất, đó là những người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc nên huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [19, Tr. Theo Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008, tại Điều 4 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng 7 Luan van đầu tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Từ những định nghĩa nêu trên chúng ta có thể hiểu cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định có trọng trách hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công. Như vậy có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại có hai cách hiểu cơ bản. Một là, Cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân từ trung ương đến cơ sở.
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ chức để phân biệt với người không có chức vụ. Như vậy, có thể hiểu chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Họ được hình thành từ bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Khái niệm năng lực Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “Năng lực”.
Chẳng hạn: Theo từ điển tiếng Việt, thì năng lực được hiểu là "sức làm được việc của con người, con vật, máy móc ., năng lực sản xuất" [28, Tr. Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực được hiểu là những phẩm chất của con người tạo ra cho con người đó khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình hoạt động nhất định. Năng lực còn được hiểu là "tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy" [21, Tr. 8 Luan van Theo cuốn thuật ngữ hành chính do Bộ nội vụ, Học viện hành chính Quốc gia và Viện nghiên cứu Hành chính xuất bản 2002, thì năng lực được quan niệm là khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay các chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất.
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà nên. Năng lực không phải là năng lực bất biến trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Ở thời điểm này, môi trường này năng lực phát huy tác dụng nhưng ở thời điểm khác, môi trường khác chưa chắc đã phát huy được tác dụng đó mà cần phải có loại năng lực khác.
Năng lực của cán bộ luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực điều kiên cụ thể. Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào đó. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Các thuộc tính ấy có quan hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể.
Tóm lại có thể khái quát: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân hoặc tổ chức đáp ứng những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. 9 Luan van Từ khái niệm năng lực nói chung, trong luận văn này tác giả đi nghiên cứu năng lực của cá nhân con người. Như vậy, năng lực của một người được hiểu là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ của người đó nhằm thực hiện tốt công việc được giao. Từ khái niệm trên ta thấy, năng lực của một người được hợp thành bởi ba yếu tố cơ bản, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ của người đó: Thứ nhất, là kiến thức, những hiểu biết về khoa học cơ bản trên các lĩnh vực tự nhiên và xã hội.
Những hiểu biết này có được là do quá trình học tập ở trường lớp hoặc tự học tập bằng các hình thức khác nhau. Nhờ những kiến thức cơ bản này mà cá nhân hay tập thể có sự nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, khoa học, có khả năng quan sát, nhận xét, tư duy, xét đoán và quyết định hành động cho phù hợp. Trình độ, mức độ về sự hiểu biết, được biểu hiện qua các văn bằng, chứng chỉ mà từng cá nhân đạt được trong quá trình học tập. Người có văn bằng, chứng chỉ cao (theo tiêu chuẩn của hệ thống giáo dục quốc gia hoặc quốc tế) thì có trình độ cao và được Nhà nước thừa nhận.
Tuy nhiên, trong thực tế, cũng có những trường hợp tuy chưa có văn bằng, chứng chỉ cấp cao nhưng lại có trình độ tốt trong việc lãnh đạo, quản lý. Có thể nói đây là những trường hợp được đào tạo, rèn luyện qua thực tiễn, tri thức của họ được hình thành từ quá trình trải nghiệm công việc, tự nghiên cứu, học tập, tích lũy, tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn công tác của bản thân và phần nào có năng lực bẩm sinh. Tất nhiên, số lượng này không nhiều. Thứ hai, là kỹ năng thực hiện công việc, khả năng vận dụng những hiểu biết của mình vào hoạt động thực tiễn, mức độ vận dụng càng thành thạo nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng cao.
Có nhiều loại kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng dụng, kỹ năng phân tích, kỹ năng quản lý…Kỹ năng có được thường do quá trình làm việc lâu dài, do kinh nghiệm 10 Luan van tạo nên, ngoài ra còn do yếu tố bẩm sinh và do kinh nghiệm truyền giao. Người có kỹ năng tiến hành công việc tự tin, nhanh chóng và chất lượng để tạo sự hài lòng của những người liên quan. Thứ ba, là thái độ ứng xử, tác phong của mỗi cá nhân trước những vấn đề có liên quan cần giải quyết. Người có thái độ ứng xử phù hợp, cầu thị, hợp tác, chia sẻ và quyết đoán sẽ giải quyết công việc được nhanh chóng, thấu tình đạt lý, được mọi người đồng thuận và ủng hộ.
Khái niệm năng lực cán bộ Năng lực cán bộ là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quá trình thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả tốt. Đội ngũ cán bộ là nguồn lực chủ yếu của hệ thống quản lý nhà nước có thể vận hành và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Do tình hình kinh tế, xã hội thường xuyên thay đổi đòi hỏi phải liên tục phát triển năng lực của cán bộ trong hệ thống quản lý nhà nước, do đó năng lực cán bộ có thể tiếp cận trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, có tri thức khoa học và kiến thức chuyên môn, khả năng dự báo, phán đoán, khả năng xử lý tình huống, khả năng hành động của cán bộ trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức. Thứ hai, năng lực thực thi công vụ của mỗi cá nhân.
Lĩnh vực này liên quan tới cá tính và giá trị, niềm tin của mỗi cá nhân và những yếu tố này định hướng cách thức xử lý công việc của họ. Lĩnh vực cá nhân của năng lực bao gồm khả năng đưa ra sáng kiến có giá trị, giám chịu trách nhiệm, sáng tạo, có khả năng phân biệt cái gì là quan trọng đối với công việc và cái gì là không quan trọng và có khát vọng đạt được kết quả. Năng lực của cán bộ được coi là khả năng của mỗi người để làm được công việc được giao, để xử lý tình huống cụ thể và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. 11 Luan van Thứ ba, khả năng quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhau, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các tổ chức bên ngoài và nhân dân trên cơ sở thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết.