Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA 1. Tổng quan về văn hóa ứng xử 1. Các khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rất rộng.
Ở nghĩa bao hàm nhất, rộng lớn nhất, văn hóa được hiểu là tất cả những giá trị do con người sáng tạo, bắt đầu từ khi hình thành xã hội loài người. Trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa”, UNESCO (1982), văn hóa được coi là “tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [31, tr. Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên, văn hóa được lý giải như sau: “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử.
Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu diện cao về văn minh. Trong trình 10 độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [25, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt, văn hóa là “những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [33, tr.
Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [28, tr. Như vậy, trong luận văn này, khái niệm văn hóa được xem xét với nghĩa hẹp là mặt tinh thần của đời sống. Theo đó, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Ứng xử Trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” của Lê Thị Bừng, ứng xử là “sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định.
Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất” [3, tr. Theo Từ điển tiếng Việt, ứng xử được định nghĩa như sau “Dưới góc độ xã hội học, ứng xử được dùng để chỉ cách hành động (và nói) như thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò như vợ/ chồng, cha/ con, cấp trên/ cấp dưới…) và đó là những hành động, hoặc 11 gọi là phản ứng, theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau, mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên” [25, tr. Theo các ngành nghiên cứu tâm lý, từ góc độ tâm lý học, ứng xử được coi là “một từ ghép của hai từ ứng và xử.
Mà ứng xử lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như ứng phó, ứng đáp, ứng biến và xử sự, xử lý, xử thế” [dẫn theo 20, tr. Theo cách hiểu này, ứng xử được hiểu là cách xử thế nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong mối quan hệ giao tiếp. Trên cơ sở đó, ứng xử được hiểu là cách xử thế nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng nào đó trong mối quan hệ giao tiếp. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp.
Ứng xử được thể hiện bởi các cá nhân cụ thể, mỗi cá nhân có đặc điểm phát triển thể chất khác nhau nên ứng xử khác nhau. Ứng xử bao giờ cũng được thực hiện trong các mối quan hệ xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các quan hệ xã hội đó. ứng xử còn được điều tiết bởi vị trí xã hội mà cá nhân đó đảm nhiệm. Đặc biệt ứng xử được xác định ở một chuẩn mực chung đó là “ngôn ngữ” chung, nếu không tìm được ngôn ngữ chung thường dẫn đến sự không hiểu nhau “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
Trong ứng xử người ta thường chú ý đến nội dung công việc, đến mục đíchtrao đổi, bàn bạc…từ đó có những biểu hiện về hành vi, cử chỉ nhất định. Ứng xử thường mang tính chất tình huống, còn giao tiếp là một quá trình, do đó khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm ứng xử. Trong ứng xử, ngoài ứng xử bằng ngôn ngữ, lời nói ra chúng ta có thể ứng xử bằng cử chỉ phi ngôn ngữ, như hành vi, cử chỉ, ứng xử bằng xúc cảm, tình cảm, ứng xử bằng văn hoá. Qua hành vi ứng xử của con người có thể cho ta biết trình độ văn hoá cũng như phẩm chất đạo đức của người đó.
12 Từ các phân tích trên, có thể hiểu ứng xử là những hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm truyền đạt, lĩnh hội những tri thức kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân, xã hội trong tình huống nhất định. Văn hóa ứng xử Theo tác giả Vũ Dũng (1990), “văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện quan ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản sắc của văn hóa dân tộc, một quốc gia được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội, thừa nhận và làm theo” [8, tr. Với ý nghĩa trên, văn hoá ứng xử có những đặc trưng khác ứng xử thông thường như sau: - Văn hoá ứng xử cao hơn ứng xử bình thường ở cung bậc sự tôn trọng lẫn nhau giữa những người tham gia giao tiếp, đặc biệt chú trọng nhân cách ứng xử. - Văn hoá ứng xử vượt xa ứng xử thông thường ở năng lực, trình độ lựa chọn thông minh xử lý nhạy cảm trong mọi tình huống.
- Văn hoá ứng xử làm tăng thêm sự hiểu biết về nhau giữa các đối tượng tham gia, vì thế sự cảm thông, nối kết được tình cảm được tăng cường, thời gian và kết quả sẽ được đẩy nhanh hơn một bước. - Ứng xử khi đã trở thành văn hoá ứng xử là khi đó con người chủ thể của ứng xử đã thực sự trở thành chủ thể có văn hoá - Văn hoá ứng xử làm cho con người chủ động hơn, kìm chế được những kích thích không cần thiết. 13 Văn hoá ứng xử được hợp thành trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người là một hệ thống chỉnh thể phức hợp bao hàm trong nó tính nhạy cảm và năng lực trí tuệ của con người được con người sử dụng thông qua những tập quán, truyền thống, đạo đức, luật pháp…. Văn hoá ứng xử làm nên giá trị ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống, nó làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của con người.
Nó giúp cho con người điều tiết được chính bản thân mình cho phù hợp với đối tượng. Văn hoá ứng xử còn thể hiện cái tâm trong mỗi con người, cái tâm đó đưa con người đến gần nhau hơn, đối xử với nhau bao dung, độ lượng và tôn trọng nhau hơn. Văn hoá ứng xử giúp con người tự chủ trong mọi tình huống giao tiếp và lôi kéo đối tượng biểu hiện những hành vi ứng xử có văn hoá, do vậy trong một cộng đồng nhất định văn hoá ứng xử giúp hình thành các nhóm ứng xử làm nên các nhóm giá trị ứng xử, giá trị văn hoá của cộng đồng và xã hội. Như vậy, văn hóa ứng xử là một thành tố đặc trưng của văn hoá được tạo nên bởi các quan hệ xã hội như: Truyền thống, đạo đức, luật pháp, tôn giáo, phong tục, quy tắc, tâm lý cộng đồng…dẫn đến tình cảm, lý trí, ý thức hệ và hành vi của chủ thể nhằm vươn tới mục đích: Chân - thiện - mỹ trong mọi hoàn cảnh nhất định.
Đặc điểm của văn hóa ứng xử Theo Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Tiến (2002), văn hóa ứng xử có những đặc điểm sau: Thứ nhất, văn hóa ứng xử có tính mô phạm/chuẩn mực. Khi nói đến văn hóa ứng xử, sẽ nhắc đến hệ thống các giá trị có tính chuẩn mực, được quy định hay quy ước giữa một cộng đồng xã hội tương đối lớn, ở một phạm vi rộng. Đây là đặc điểm tạo nên sự ràng buộc với mỗi cá nhân khi tham gia vào các quan hệ xã hội, buộc các cá nhân phải tuân thủ trong suốt quá trình giao tiếp. 14 Đặc điểm này đảm bảo cho cấu trúc của các mối quan hệ trong xã hội, giữ được tính ổn định một cách bền vững tương đối, không làm xáo trộn xã hội thông qua việc kiềm chế hành vi ứng xử của từng cá nhân trong cộng đồng.