Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp 1. Nội dung và các mô hình văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa doanh nghiệp a.
Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Chính vì vậy, cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” tác giả Đỗ Minh Cương (2001, tr.21) đã tổng kết lại các định nghĩa phổ biến về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”.
Văn hóa có thể được hiểu là “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ” (Đỗ Minh Cương, 2001, tr. Nhìn nhận từ một góc độ khác, Bùi Xuân Phong (2009, tr.18) cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó”.
Như vậy có thể nói “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, 6 với tự nhiên và xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội” (Bùi Xuân Phong, 2009, tr. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Tương tự văn hóa, có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về VHDN. Tất cả các quan điểm đó sẽ giúp ta hiểu về VHDN một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.
Một định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi do chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein đưa ra: “VHDN là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” (E. Theo Nguyễn Mạnh Quân (2011, tr.18) “VHDN được định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”. Theo Dương Thị Liễu (2009, tr.12) “VHDN là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của DN, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong DN và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của DN”. Theo Đỗ Minh Cương (2001, tr.23) “Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là văn hoá mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của nó”.
Điểm chung của các định nghĩa trên là VHDN có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các cá nhân, kể cả những người sáng lập và lãnh đạo DN. Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của DN, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân DN. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và xét từ góc độ quản trị tác nghiệp, VHDN có thể được định nghĩa như sau: 7 “VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”. VHDN thể hiện sự đồng thuận về quan điểm, sự thống nhất trong cách tiếp cận và trong hành vi của các thành viên một DN.
Nó được mọi thành viên trong DN chấp thuận, ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa của một DN bất kỳ đều có bốn đặc điểm chính sau đây: Một là, VHDN hình thành theo thời gian. Trong cơ quan tồn tại hai loại giá trị đó là các giá trị ngầm định (tự nó tồn tại và được mọi người chấp thuận tự nhiên) và giá trị thứ hai do các cán bộ lãnh đạo cơ quan muốn đưa vào. Trải qua thời gian các giá trị đó được các thành viên chấp nhận và được duy trì theo thời gian và dần dần sẽ trở thành các giá trị ngầm định.Các nhân viên rất nhạy cảm với sự thay đổi môi trường làm việc và các giá trị mới đưa vào.
Do đó việc các giá trị này được tồn tại hay không thời gian sẽ quyết định rất nhiều. Hai là, VHDN liên quan đến nhận thức. Nhận thức ở đây có thể thông qua mắt nhìn tai nghe, qua các giác quan khác…Tất cả các giá trị văn hóa của DN đều được phản ánh đến các thành viên. Cho dù các thành viên có thể có những trình độ khác nhau, có vị trí công việc khác nhau nhưng quá trình về nhận thức văn hóa công ty là như nhau.
Ba là, VHDN có tính đặc trưng. Mỗi DN đều có một hệ giá trị đặc trưng khác biệt nhau: từ biểu tượng, đồng phục…. đến phương châm kinh doanh. Chính điều đó đã khẳng định VHDN là một vũ khí cạnh tranh, vũ khí thể hiện sự tồn tại của công ty.
Bốn là, VHDN mang ý nghĩa chủ quan của người lãnh đạo. Tính chất này bắt nguồn từ ý đồ của nhà quản trị cấp cao của công ty. Và thực sự VHDN chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhà lãnh đạo cấp cao đó. VHDN là một hệ giá trị của các nhân viên trong công ty.
Mà xuất phát điểm của chúng là từ nhà quản lý.Vì vậy nhìn vào văn hóa của một DN, trước hết ta hãy nhìn vào vị lãnh đạo của công ty 8 đó: hãy xem ông ta là người như thế nào, quan niệm của ông ta ra sao…Điều này cũng rất dễ hiểu, ngay từ công tác tuyển dụng nhân viên người lãnh đạo có xu thế tuyển dụng những người cùng quan điểm về giá trị. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Trên thực tế, VHDN có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển DN. Nó là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh; ảnh hưởng tới hoạch định chiến lược phát triển DN; thu hút nguồn nhân lực; tăng cường sự gắn bó của người lao động, tạo động lực làm việc; giúp điều phối và kiểm soát công việc và làm giảm xung đột trong DN. Tạo ra lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của DN được xem xét dựa trên các khía cạnh như: chất lượng sản phẩm và dịch vụ, chi phí, công nghệ, sự linh hoạt trước phản ứng của thị trường, thời gian giao hàng…Để có được những lợi thế đó DN phải có các nguồn lực về tài chính, nhân lực,máy móc,nguyên vật liệu, phương pháp làm việc.
Tính hiệu quả của DN bị ảnh hưởng rất lớn bởi VHDN. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách của DN cũng như tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược đã được lựa chọn dựa trên việc chia sẻ và gắn kết vai trò, công việc của mỗi cá nhân trong DN đối với mục tiêu chung xuất phát từ chiến lược. Môi trường VHDN còn có ý nghĩa tác động đến tinh thần, thái độ, động lực làm việc của các thành viên. Phương thức làm việc của lãnh đạo DN sẽ ảnh hưởng đến VHDN và từ đó tác động lên nhân viên, giúp họ định hướng công việc tốt cũng như xác định rõ những đóng góp của mình đối với DN, xây dựng và phát triển bản thân.Từ những yếu tố đó, VHDN nâng cao giá trị của các nguồn lực có sẵn của DN để đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh của DN b.
Ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược VHDN chính là sự gắn kết giữa cá nhân với DN bằng cách chỉ rõ ra mối liên hệ giữa công việc mà họ đang làm đối với nỗ lực đạt được mục tiêu của DN thông qua việc thực thi các chính sách của chiến lược để tiến đến mục tiêu. VHDN chỉ cho các thành viên thấy sự đóng góp của họ đối với việc hoàn thành mục tiêu của DN như thế nào, từ đó thúc đẩy họ hoàn thành tốt công việc của mình. VHDN được thúc đẩy bởi sự lãnh đạo hiệu quả, nếu một người lãnh đạo biết chú trọng và phát triển VHDN 9 họ sẽ xây dựng những phương thức và hệ thống làm việc hiệu quả để giúp nhân việc thực hiện tốt công việc như: hệ thống thông tin, các phương thức phân quyền và giao việc hiệu quả. Thu hút nguồn nhân lực, tăng cường sự gắn bó của nhân viên với DN Một khi văn hóa của DN trở nên mạnh mẽ và hiệu quả thì sẽ góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của DN, đưa tiếng vang của DN ra ngoài.
Chính những tiếng vang này sẽ giúp DN thu hút được các nhân tài mong muốn vào làm việc ở đây. Hơn nữa, bằng chính VHDN ổn định, rõ ràng, có tính định hướng cao sẽ giúp cho DN giữ được người lao động ở lại với mình lâu hơn, có ý muốn gắn bó và phát triển lâu dài cùng với DN do họ tìm thấy được một môi trường làm việc ổn định và phù hợp, có tương lai. Một DN có nền văn hóa tốt chắc chắn sẽ thu hút được nhân tài và cũng cố lòng tin, lòng trung thành của các thành viên trong DN.