Tổng quan nghiên cứu

Huyện Ba Chẽ là huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên đạt 57.666 ha, trong đó địa hình đồi núi dốc bị chia cắt mạnh tạo ra nhiều khó khăn đặc thù cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số toàn huyện đạt 20.576 người, trong đó dân số sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm tới 78,68% với 16.193 người. Đồng thời, lực lượng lao động nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo 78,5% tổng nguồn nhân lực. Xuất phát điểm xây dựng nông thôn mới của huyện ở mức thấp, tập quán sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi chưa đồng bộ, cùng tâm lý trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước ở một bộ phận người dân đồng bào dân tộc thiểu số.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để phát huy tối đa vai trò trung tâm, nòng cốt của Hội Nông dân nhằm chuyển hóa các chủ trương chính sách thành hành động cụ thể của từng hộ gia đình. Nghiên cứu xác định mục tiêu tổng quát là đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của Hội Nông dân trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Ba Chẽ giai đoạn 2011–2014, từ đó nhận diện những mặt đạt được, các hạn chế nội tại và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức Hội đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 7 xã và 1 thị trấn của huyện Ba Chẽ, tập trung khảo sát thực chứng chuyên sâu tại 3 xã đại diện là Lương Mông, Thanh Sơn và Đồn Đạc. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được thể hiện qua việc lượng hóa hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân thông qua các chỉ số kinh tế - xã hội cụ thể, hỗ trợ giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 3% đến 4% mỗi năm và thúc đẩy hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới bền vững trên địa bàn miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển nông thôn bền vững và nguyên tắc phát huy nội lực cộng đồng. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, mô hình nông thôn mới bao gồm 5 nội dung cơ bản: kinh tế phát triển bền vững theo hướng hàng hóa, kết cấu hạ tầng - xã hội hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và hệ thống chính trị cơ sở được củng cố vững chắc. Bộ tiêu chí quốc gia theo Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cụ thể hóa chương trình bằng 19 tiêu chí và 39 chỉ tiêu.

Vị trí pháp lý và chức năng của Hội Nông dân được định hình rõ nét qua Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc giao Hội Nông dân trực tiếp thực hiện và phối hợp triển khai các chương trình kinh tế - xã hội nông thôn giai đoạn 2011–2020. Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm trung tâm: vai trò chủ thể của giai cấp nông dân, mô hình liên kết kinh tế tập thể, quy chế dân chủ cơ sở và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hàng hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011–2014. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ, các báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng văn kiện lưu trữ của Hội Nông dân tỉnh Quảng Ninh.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai điều tra với tổng quy mô mẫu là 180 hộ gia đình tại 6 thôn thuộc 3 xã điển hình: thôn Xóm Mới và Đồng Giảng B (xã Lương Mông), thôn Khe Pụt Trong và Khe Lọng Ngoài (xã Thanh Sơn), thôn Làng Mô và Pắc Cáy (xã Đồn Đạc). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên: phân tầng 3 xã đại diện cho các tiểu vùng địa lý khác nhau của huyện, chọn ngẫu nhiên 2 thôn tại mỗi xã và 30 hộ trên mỗi thôn. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 30 cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể và 70 hộ hội viên nòng cốt.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh định lượng - định tính và phân tích ma trận SWOT là nhằm đánh giá chính xác các nguồn lực, nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức nội tại của tổ chức Hội trong bối cảnh địa phương có 9 dân tộc anh em cùng sinh sống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế huyện Ba Chẽ giai đoạn 2009–2013 có sự chuyển dịch tích cực nhưng tỷ trọng nông - lâm nghiệp vẫn giữ vai trò chi phối. Khối nông lâm thủy sản giảm từ 65,2% năm 2009 xuống 48,2% năm 2013, trong khi khối thương mại - dịch vụ tăng tương ứng từ 16,5% lên 27,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động trong ngành nông lâm nghiệp vẫn ở mức cao với 78,5% năm 2013, chỉ giảm nhẹ 2,7% so với mức 81,2% của năm 2009.

Thứ hai, hoạt động hỗ trợ sản xuất và tiếp cận vốn tín dụng do Hội Nông dân thực hiện đã tạo động lực phát triển kinh tế hộ. Hội Nông dân huyện phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn duy trì mạng lưới các tổ tiết kiệm và vay vốn, giúp hàng trăm lượt hộ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi phát triển kinh tế rừng trên tổng diện tích 55.000 ha đất lâm nghiệp toàn huyện. Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi ghi nhận nhiều tấm gương điển hình với mức thu nhập từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi năm từ kinh tế trang trại và cây lâm sản.

Thứ ba, công tác huy động nguồn lực xã hội hóa để kiến thiết hạ tầng nông thôn đạt kết quả rõ nét. Tính đến năm 2014, hệ thống đường huyện dài 116,62 km đã kiên cố hóa bê tông được 72,62 km (đạt 62,27%); đường xã dài 49,43 km đạt tỷ lệ bê tông 25,1% (12,42 km). Hệ thống kênh mương toàn huyện đạt 162,78 km, trong đó kiên cố hóa được 54,22 km (đạt tỷ lệ 33,1%) với 220 đập dâng phục vụ tưới tiêu cho hơn 1.000 ha đất sản xuất. Hội Nông dân các xã đã vận động hội viên hiến hàng chục nghìn mét vuông đất và đóng góp hàng nghìn ngày công lao động làm đường giao thông liên thôn.

Thứ tư, tỷ lệ phủ điện lưới quốc gia đạt 95,2% trên tổng số 4.322 hộ dân. Mặc dù vậy, toàn huyện vẫn còn 174 hộ dân (chiếm 4,8%) tại các khe bản vùng sâu xã Đồn Đạc chưa có điện sinh hoạt do địa hình đồi núi hiểm trở và suất đầu tư hạ tầng quá lớn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những bước tiến trên bắt nguồn từ việc thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi. Hội Nông dân đã khơi dậy tinh thần đoàn kết của các dân tộc Dao (chiếm 43,7%), Kinh (20,2%), Sán Chỉ (18,1%) và Tày (16,3%). Dữ liệu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tương quan lao động có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng tăng trưởng, đồng thời mức độ tham gia của hội viên vào các tiêu chí hạ tầng được tổng hợp rõ ràng qua bảng ma trận so sánh 3 xã nghiên cứu.

So sánh với các bài học kinh nghiệm từ huyện Đơn Dương (tỉnh Lâm Đồng) và huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh - nơi có 17/19 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014 với dư nợ ủy thác qua Hội đạt trên 105 tỷ đồng), công tác xây dựng nông thôn mới tại Ba Chẽ vẫn bộc lộ khoảng cách đáng kể. Đội ngũ cán bộ Hội cơ sở tại Ba Chẽ còn thiếu kỹ năng tuyên truyền chuyên sâu, việc nhân rộng các mô hình liên kết chuỗi giá trị và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật còn chậm so với tiềm năng đất lâm nghiệp của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng. Ban Thường vụ Hội Nông dân huyện và Hội Nông dân các xã cần chủ động phối hợp với các cơ quan truyền thông tổ chức định kỳ 40 đến 50 buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo đầu bờ mỗi năm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ hội viên nông dân hiểu rõ 19 tiêu chí nông thôn mới đạt 100% trước năm 2018, kiên quyết xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của Nhà nước.

Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ vốn vay gắn liền với chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hội Nông dân huyện phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ ủy thác từ 12% đến 15% hằng năm giai đoạn 2015–2020. Đồng thời, liên kết với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mở 30 lớp dạy nghề ngắn hạn và tập huấn kỹ thuật thâm canh cây dược liệu quý như trà hoa vàng, ba kích cho trên 1.500 lượt nông dân mỗi năm.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực thực thi cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở. Huyện ủy và UBND huyện Ba Chẽ cần xây dựng đề án đào tạo chuyên sâu về kỹ năng quản lý dự án, giám sát đầu tư cộng đồng và phản biện xã hội cho 100% cán bộ chi hội trưởng tại 75 thôn bản, bảo đảm đến năm 2020 có trên 85% cán bộ Hội cấp cơ sở đạt chuẩn chức danh theo quy định.

Thứ tư, tăng cường phát huy vai trò chủ thể trong huy động nguồn lực và giám sát cộng đồng. Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã cùng các chi hội nông dân đẩy mạnh phong trào hiến đất, phấn đấu nâng tỷ lệ bê tông hóa đường trục xã đạt 60% và kênh mương nội đồng đạt trên 50% vào năm 2020, bảo đảm tính minh bạch trong quản lý, vận hành các công trình dân sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và chuyên trách của hệ thống Hội Nông dân các cấp. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về kỹ năng vận động quần chúng, phương pháp tổ chức các tổ hợp tác vay vốn và cách thức lồng ghép phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi vào bộ tiêu chí nông thôn mới.

Nhóm thứ hai là Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới cấp huyện, xã. Nghiên cứu mang lại góc nhìn đa chiều về quản lý nguồn lực cơ sở, bài học kinh nghiệm trong phân bổ vốn đầu tư hạ tầng và các giải pháp thực thi quy chế dân chủ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp khảo sát thực địa mẫu 180 hộ, ứng dụng phân tích SWOT và đánh giá tác động chính sách đối với cơ cấu kinh tế nông nghiệp miền núi.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác hiện trạng 56.126 ha đất nông lâm nghiệp và đặc tính lực lượng lao động nông thôn (chiếm 57,4% dân số trong độ tuổi lao động) nhằm xây dựng liên kết chuỗi sản xuất bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn tiếp cận vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới dựa trên những khía cạnh cốt lõi nào? Luận văn đánh giá vai trò của Hội qua 8 trụ cột chức năng chính: tuyên truyền vận động, tham gia thành lập ban quản lý, thảo luận chiến lược, lập quy hoạch cơ sở, phát triển kinh tế hộ qua vốn vay và kỹ thuật, huy động sức dân hiến đất ngày công, giám sát cộng đồng và quản lý vận hành công trình nông thôn.

  2. Điểm đặc thù về kinh tế - xã hội tại huyện Ba Chẽ ảnh hưởng thế nào đến tiến trình xây dựng nông thôn mới? Ba Chẽ có địa hình chia cắt phức tạp, đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích (hơn 55.000 ha), dân số nông thôn chiếm 78,68% với 9 dân tộc sinh sống (dân tộc Dao chiếm 43,7%). Xuất phát điểm kinh tế thấp và tập quán sản xuất nhỏ lẻ tạo ra rào cản lớn trong việc hoàn thành tiêu chí thu nhập và hạ tầng.

  3. Phương pháp chọn mẫu khảo sát trong nghiên cứu được thiết kế như thế nào để bảo đảm tính khoa học? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên với cỡ mẫu 180 hộ dân tại 6 thôn thuộc 3 xã đặc trưng (Lương Mông, Thanh Sơn, Đồn Đạc). Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 30 cán bộ và 70 hội viên nòng cốt để thu thập đa chiều các chỉ số định lượng và định tính.

  4. Những đóng góp thực tế nổi bật nhất của Hội Nông dân huyện Ba Chẽ trong giai đoạn 2011–2014 là gì? Hội Nông dân đã làm nòng cốt vận động nhân dân hiến đất, đóng góp hàng nghìn ngày công giúp nâng tỷ lệ bê tông hóa đường huyện lên 62,27% và kênh mương kiên cố đạt 33,1%. Hội cũng ủy thác thành công hàng chục tỷ đồng vốn vay giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3% đến 4% mỗi năm.

  5. Những hạn chế lớn nhất được luận văn chỉ ra đối với tổ chức Hội Nông dân là gì? Năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ Hội cơ sở còn hạn chế, hình thức tuyên truyền đôi lúc còn mang tính hành chính một chiều. Ngoài ra, việc xây dựng các mô hình kinh tế tập thể quy mô lớn liên kết với chuỗi giá trị chế biến lâm sản còn gặp nhiều khó khăn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và khẳng định vai trò trung tâm, nòng cốt của Hội Nông dân trong việc cụ thể hóa 19 tiêu chí nông thôn mới vào đời sống kinh tế - xã hội vùng miền núi.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện từ 180 hộ gia đình và 30 cán bộ tại 3 xã trọng điểm (Lương Mông, Thanh Sơn, Đồn Đạc), phản ánh chân thực các động lực và rào cản phát triển.
  • Nhận diện rõ nét bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ nông nghiệp thuần túy (chiếm 65,2% năm 2009 giảm còn 48,2% năm 2013) sang phát triển thương mại, dịch vụ và kinh tế lâm nghiệp bền vững.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp đồng bộ về đổi mới tuyên truyền, mở rộng vốn ủy thác gắn với chuyển giao công nghệ, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và nâng cao năng lực giám sát cộng đồng.
  • Định hướng lộ trình thực hiện đến năm 2020: Các cấp ủy Đảng và tổ chức Hội cần nhanh chóng triển khai đề án đào tạo cán bộ cơ sở, đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển cây dược liệu bản địa để đưa Ba Chẽ về đích nông thôn mới theo đúng kế hoạch.