phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước là những vấn đề trọng tâm của khoa học chính trị, được nhiều nhà triết học, chính trị học, xã hội học từ thời cổ đại đến nay quan tâm nghiên cứu.
Có thể khẳng định, từ khi nhà nước ra đời, các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau, các lý thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước cũng ra đời, phát triển và dần hoàn thiện cùng với lịch sử phát triển của nhân loại. Cùng với quá trình đó, các khái niệm, phạm trù cơ bản của kiểm soát quyền lực nhà nước cũng từng bước được làm sáng tỏ. Có hai hướng tiếp cận chính khi nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới, từ đó, hình thành nên hai phương thức cơ bản để thực hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước: kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong (kiểm soát của các thể chế quyền lực nhà nước) và kiểm soát nhà nước từ bên ngoài (kiểm soát của các thể chế không mang tính nhà nước). Ở hướng tiếp cận thứ nhất, các nhà chính trị học hướng tới sự tìm kiếm phương thức hữu hiệu để các cơ quan trong bộ máy nhà nước có thể kiểm soát, kiềm chế, đối trọng với nhau.
Lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của lý thuyết phân quyền. Các tác phẩm tiêu biểu đặt nền móng cho hướng tiếp cận này là Chính trị luận (The Politics) của Aristotle, Hai khảo luận về chính quyền (Two treasures of government) của J.Locke, Tinh thần pháp luật (De L’Esprit de lois) của Montesquieu. 8 Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã đề xuất những ý tưởng đầu tiên của nguyên tắc phân quyền, ông cho rằng phải chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận: nghị luận, chấp hành và xét xử để chúng có thể đối trọng, kiểm soát lẫn nhau. Đến thời cận đại, J.Locke xuất phát từ khía cạnh con người - xã hội đã luận giải về quyền lực nhà nước và đề xuất chia quyền lực nhà nước thành ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp.
Lý thuyết phân quyền được phát triển hoàn thiện trong quan niệm về tam quyền phân lập của Montesquieu khi ông chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Lý thuyết này đặt cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở các quốc gia hiện đại. Tiếp nối cách tiếp cận này, nhiều nhà chính trị học hiện nay cũng tìm kiếm các phương thức hữu hiệu để thực hiện sự kiểm soát quyền lực từ chính cách thức tổ chức và vận hành các cơ quan quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực từ chính các cơ quan bên trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tránh tình trạng chuyên quyền, độc đoán. Theo đó, có hai phương thức cơ bản để thực hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong được nhiều tác giả đề cập đến là: “một nền tư pháp độc lập thực sự mạnh” và “sự phân lập các quyền để các nhánh quyền lực có thể chế ước và đối trọng lẫn nhau”, sự phi tập trung trong tổ chức và vận hành các cơ quan nhà nước địa phương.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Patrick Gunning (2002), Hiểu biết về nền dân chủ - một giới thiệu về lý thuyết lựa chọn công cộng (Understanding democracy - An introduction to Public choice); A.McIntyre (2002), Quyền lực của các thể chế (Power of Institutions); Nhóm nghiên cứu Ngân hàng thế giới (1998) Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi; Micheal G. Ở hướng tiếp cận thứ hai, các nhà nghiên cứu lại cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất, được hình thành trên cơ sở ủy quyền của nhân dân, nguồn gốc của quyền lực nhà nước là do nhân dân giao phó để thực hiện những mục tiêu chung vì sự phát triển của xã hội, do đó, nhân dân mới là chủ thể tối cao có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc thực hiện các quyền dân chủ của mình. Các tác 9 giả nhấn mạnh đến phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, thông qua vai trò của “chủ thể tối cao không thể từ bỏ và không thể phân chia được của quyền lực nhà nước” là nhân dân. Các phương thức kiểm soát quyền lực được đề cập đến là: Thứ nhất, bầu cử theo nhiệm kỳ, lấy phiếu tín nhiệm chính phủ và những người cầm quyền, thực hiện quyền bãi miễn của nhân dân.
Thứ hai, sử dụng công luận, tức là thông qua sự giám sát và phản biện quyền lực mang tính thường xuyên của nhân dân. Các tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là: Khế ước xã hội (The social contract) của J.Rousseau, Bàn về tự do (On Liberty) của J.Mill và một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khi bàn về việc xây dựng chính quyền Công xã Paris và nhà nước Xô Viết. Trong những thập niên gần đây, các nghiên cứu theo hướng này không chỉ giới hạn việc kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước mà còn mở rộng ra, bổ sung nhiều phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài như: sự kiểm soát của đảng chính trị, của các tổ chức chính trị - xã hội, của các phương tiện truyền thông đại chúng, của xã hội dân sự,… Các tác phẩm tiêu biểu là: Seymour Martin Lipset (1981), Con người chính trị (Political Man); Robert A.Birnbaum (1992) Những nhà vận động hành lang - những kẻ ngồi lê hoạt động như thế nào tại Oasinhtơn (The lobbyists - How influence peddlers work their way in Washington); Andrew Heywood (2002), Chính trị (Politics),… Quan điểm chủ yếu của các tác phẩm này là đều thừa nhận vai trò của bầu cử trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước nhưng cho rằng chỉ với bầu cử thì không đủ sức mạnh để thực hiện sự kiểm soát, do đó, cần phải bổ sung các phương thức kiểm soát khác từ bên ngoài.Dahl, trong các tác phẩm của mình, ông thừa nhận “bầu cử và hệ thống đảng phái cạnh tranh là những điều kiện quan trọng để các nhà lãnh đạo có trách nhiệm nhất định đến lợi ích của các công dân”, tuy nhiên, chỉ với hai yếu tố nêu trên thì chưa đủ để đảm bảo sự cân bằng của nền dân chủ. Sự tồn tại và hoạt động của các “nhóm lợi ích với những quy mô và mục 10 tiêu khác nhau sẽ là điều kiện đủ cho nền dân chủ”.
Giá trị của dân chủ nằm trong nguyên tắc cai trị bởi “những đối lập thiểu số đa dạng” hơn là việc thiết lập “sự cai trị của đa số” [27, tr. Ở những góc độ tiếp cận khác, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề đóng vai trò là môi trường, điều kiện để hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện có hiệu quả như: đảm bảo quyền con người; tự do ngôn luận, tự do báo chí; sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của nhà nước; đạo đức, trách nhiệm của các nhà lãnh đạo;… Những nội dung này được đề cập đến trong một số tác phẩm tiêu biểu như: Stapenhurst Rick, Kpundeh Sahr (1999), Curbing corruption - Toward a model for building nationnal integrity (Kiềm chế tham nhũng - Hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch của quốc gia); Kriegel, Blandine (1995), The state and the rule of law (Nhà nước và nhà nước pháp quyền); Micheal J. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam được các nhà nghiên cứu quan tâm trong mấy thập niên trở lại đây. Từ cuộc vận động góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 (năm 2013), số lượng các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước tăng lên nhanh chóng, chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật học, chính trị học và đã cung cấp nhiều giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước tập trung vào hai hướng: nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn kiểm soát quyền lực ở các nước trên thế giới và nghiên cứu về mô hình kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.