phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu theo ba phần chính sau: Phần 1: Tổng quan về gian lận và sai sót và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót; Phần 2: Thực trạng về gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót tại Việt Nam hiện nay; Phần 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên đối với việc phát hiện gian lận và sai sót trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN VÀ SAI SÓT VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI GIAN LẬN VÀ SAI SÓT 1.1 Tổng quan về gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính: 1.1 Định nghĩa về gian lận và sai sót: Khái niệm về gian lận, sai sót và phương pháp phát hiện gian lận và sai sót đã hình thành, phát triển dần thành một hệ thống lý luận liên quan mật thiết đến nhiều nghề nghiệp trong đó có nghề nghiệp kế toán và kiểm toán. Quá trình nhận thức về bản chất gian lận và sai sót để đưa đến các định nghĩa khác nhau thay đổi từ đơn giản đến phức tạp. Các định nghĩa về gian lận và sai sót thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức con người.
Hiểu theo nghĩa rộng, gian lận là việc thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Có ba cách thông thường nhất để thực hiện gian lận, đó là: chiếm đoạt, lừa đảo và biển thủ. Về phương diện kế toán, theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 10, gian lận và sai sót được định nghĩa là: những sai sót trong tính toán, trong việc áp dụng chính sách kế toán, giải thích sai thực tế, gian lận hoặc cố ý bỏ sót. Về phương diện kiểm toán, theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 240 năm 2004, gian lận và sai sót được định nghĩa như sau: Sai sót là những lỗi không cố ý xảy ra ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính như bỏ sót một khoản tiền hay quên không khai báo thông tin trên Báo cáo tài chính.
Các ví dụ thông thường về sai sót có thể kể ra bao gồm sai sót trong quá trình thu thập và xử lý số liệu và trình bày trên báo cáo tài chính, sai sót trong các ước tính kế toán hay trong việc áp dụng sai các nguyên tắc kế toán. Gian lận là hành vi cố ý của một người hay một nhóm người như nhân viên, ban giám đốc hay bên thứ ba nhằm lừa gạt để thu được những lợi ích bất chính. Có hai loại gian lận: Gian lận trên báo cáo tài chính và hành vi biển thủ tài sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Gian lận trên báo cáo tài chính là: Làm thay đổi, làm giả mạo các chứng từ kế toán hoặc ghi chép sai; không trình bày hoặc cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên báo cáo tài chính; cố ý không áp dụng, không tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, ghi các nghiệp vụ không xảy ra.
Biển thủ tài sản là: Biển thủ một khoản tiền thu được; đánh cắp một tài sản vật chất hay một tài sản trí tuệ; sử dụng tài sản của công ty vào việc riêng. Bên cạnh các định nghĩa tìm thấy trong chuẩn mực kế toán và kiểm toán, định nghĩa về gian lận còn được tìm thấy trong các công trình nghiên cứu về gian lận. Theo báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia về chống gian lận trên Báo cáo tài chính của Hoa kỳ hay còn được gọi là Treadway Commision năm1987, gian lận được định nghĩa: Gian lận trên báo cáo tài chính là hành vi cố ý bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ. Gian lận trên báo cáo tài chính có thể bao gồm các loại sau đây: - Làm giả mạo, thay đổi, hoặc dùng những thủ thuật ghi chép sai nhằm để thay đổi các nghiệp vụ, các khoản mục, tài sản; - Cố ý bỏ sót hoặc không trình bày những thông tin quan trọng trên báo cáo tài chính; - Cố ý không áp dụng những nguyên tắc kế toán, các chính sách, các thủ tục được sử dụng để đo lường, ghi nhận, báo cáo và công bố những sự kiện và các giao dịch kinh tế; - Cố ý bỏ sót hoặc không công bố những nguyên tắc kế toán và chính sách liên quan tới các số liệu tài chính.2 Lịch sử phát triển về gian lận: Gian lận xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người.
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh vi hơn và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Khởi điểm của gian lận là do chuyển từ cuộc sống riêng biệt của từng cá thể sang chung sống thành cộng đồng. Hình thức phôi thai của gian lận là hành vi biển thủ tài sản nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân. Gian lận phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế.
Vào cuộc cách mạng công nghiệp, đã xuất hiện hàng loạt các doanh nghiệp với sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý. Sự tách rời này đã làm phát triển hình thức gian lận mới đó là gian lận của người quản lý, nhân viên đối với người chủ sở hữu. Biểu hiện của các hành vi này là tham ô, biển thủ tài sản. Đến thế kỷ 20, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán - một trong các kênh huy động vốn hiệu quả nhất của thị trường tài chính thế giới, làm phát sinh nhiều loại gian lận mới được thực hiện bởi một số người trong ban giám đốc, nhân viên.
Vào cuối thế kỷ 20, sự phá sản của hàng loạt các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới mà sự sụp đổ của nó có thể kéo theo sự trượt dốc nghiêm trọng của cả một ngành. Xã hội đã phải giật mình trước một thực tế là ngày càng nhiều các vụ gian lận xảy ra, trong đó vụ gian lận điển hình được nhắc tới nhiều nhất những năm cuối thế kỷ 20 phải kể đến là Enron, Worlcom, Xerox, Nicor Energy LLC. Enron: Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Enron là một trong những công ty hàng đầu thế giới kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng, họat động kinh doanh đạt hiệu quả rất cao. Tuy nhiên đến những năm cuối của thế kỷ 20, kết quả hoạt động kinh doanh thực của công ty ngày càng sụt giảm.
Sáu tháng cuối năm 1999, lợi nhuận công ty là 325 triệu đô la trong khi đó 6 tháng cuối năm 2000 lợi nhuận chỉ còn lại là 55 triệu đô la. Để duy trì lòng tin của công chúng, Enron đã thổi phồng lợi nhuận trên Báo cáo tài chính. Việc gian lận không thực hiện bởi một người hay một số ít người mà có sự cấu kết của nhiều người trong đó có cả Hội đồng quản trị. Nhóm người thực hiện gian lận là Ban lãnh đạo của công ty (Governance) và kể cả công ty kiểm toán.
Để che dấu tình hình kinh doanh sụt giảm, công ty đã thực hiện các phương pháp như là : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 - Sử dụng phương pháp đánh giá tài sản, công nợ theo giá thị trường. Nếu áp dụng phương pháp này, Báo cáo kết quả kinh doanh xuất hiện khoản thu nhập “ảo” và những khoản thu nhập này không thể chuyển hoá thành tiền; - Che dấu công nợ và dấu chi phí: Để thực hiện, Enron tạo ra hàng loạt các công ty con đa chức năng vừa làm người mua - người bán để che dấu các khoản nợ và các khoản lỗ. Dù Báo cáo tài chính công bố các khoản vay nợ đang có xu hướng giảm sút nhưng thực tế là trong suốt chín tháng đầu năm 2000, khoản nợ phải trả tăng lên với tốc độ chóng mặt. Trong thời gian này, Enron đã tiến hành vay nợ thêm 3,9 tỷ đô la nâng tổng số nợ đến cuối tháng 9 là 13 tỷ đô la; tỷ suất nợ phải trả trên tổng vốn kinh doanh đã chiếm tới 50% thay vì 39% tại năm 1999.
Ngoài khai khống thu nhập và giấu chi phí, Enron còn tự ý thay đổi dữ liệu về thị trường năng lượng Texas, thị trường năng lượng California và hối lộ Chính phủ nước ngoài để thắng được các hợp đồng về năng lượng ở nước ngoài. Worldcom: Tháng 3 năm 2002 công ty này bị Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ, công tố viên bang New York buộc tội có những hành vi gian lận thông qua việc vốn hoá một khoản chi phí hoạt động trị giá 3.8 tỷ đô la và do đó khai khống lợi nhuận một khoản tương ứng. Thêm vào đó là hành vi không liêm chính của người sáng lập ra công ty - ông Bernard Ebber đã vay một khoản tiền trị giá 400 triệu đô la mà không hề được theo dõi và ghi chép và khai báo trên Báo cáo tài chính. Xerox: Tháng 6 năm 2000 Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ cáo buộc Xerox về tội công bố các thông tin sai lệch trên Báo cáo tài chính trong suốt năm năm, khai khống thu nhập 1.
Để sửa chữa hành vi gian lận, Xerox đã đồng ý nộp phạt 10 triệu đô la cho Uỷ ban chứng khoán Hoa kỳ và lập lại Báo cáo tài chính từ năm 1997 một cách trung thực và minh bạch. Ban giám đốc công ty cũng đã có những cam kết tuân thủ theo các yêu cầu của Luật chứng khoán và đảm bảo Báo cáo tài chính là không còn có các gian lận và sai sót nữa. Nicor Energy LLC: Tháng 7 năm 2002 công ty đã gian lận trên Báo cáo tài chính nhưng kiểm toán viên độc lập đã không thể phát hiện được. Gian lận tại công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 ty chủ yếu là hành vi khai khống doanh thu và khai thiếu chi phí.
Sau đó, Nicor Energy LLC đã điều chỉnh Báo cáo tài chính và hiện nay đã thiết lập được một hệ thống kế toán đáng tin cậy.