Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2008 - 2012 chứng kiến những biến động sâu sắc của thị trường tài chính Việt Nam khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, kéo theo tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô và lạm phát tăng vọt lên mức 9,58% vào cuối năm 2010. Để ứng phó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, vô hình trung đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên mức 18% - 20%/năm trong năm 2008 và làm bùng nổ cuộc đua lãi suất liên ngân hàng lên tới 30% - 40%/năm vào tháng 10/2011. Trong bối cảnh đó, vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự căng thẳng thanh khoản trầm trọng và nguy cơ đổ vỡ mang tính hệ thống, đặc biệt tập trung tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô nhỏ.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa khung lý luận về thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng thương mại; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thanh khoản thông qua các luồng cung cầu tiền mặt và hệ thống chỉ số tài chính giai đoạn 2008 - 2012; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao năng lực thanh khoản cho các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ tại Việt Nam đến năm 2015 và định hướng tầm nhìn 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 18 ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2008 đến hết ngày 31/12/2012.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở khoa học để tái cấu trúc dòng vốn, giúp các ngân hàng nhỏ kiểm soát tỷ lệ cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động dưới ngưỡng trần an toàn 80% theo quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN. Đồng thời, nghiên cứu mở ra hướng đi giúp toàn ngành kéo giảm tỷ lệ nợ xấu từ mức 3,3% năm 2011 xuống dưới ngưỡng an toàn 3%, hạn chế tình trạng thâm hụt nguồn vốn khả dụng và củng cố niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống các tổ chức tín dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thanh khoản hiện đại trong quản trị ngân hàng thương mại, tiêu biểu là định nghĩa của PGS.TS Trần Huy Hoàng về việc thanh khoản đại diện cho khả năng tiếp cận tài sản hoặc nguồn vốn với chi phí hợp lý ngay khi phát sinh nhu cầu chi trả. Thứ hai là mô hình các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của Decker (2000), phân định rõ hai nhóm nguyên nhân: nhóm nhân tố nội tại (quy mô tổng tài sản, tỷ lệ dự trữ sơ cấp - thứ cấp, cơ cấu vốn tự có trên tổng nguồn vốn) và nhóm nhân tố ngoại sinh (tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát kỳ vọng, sự phát triển của thị trường tiền tệ). Thứ ba là lý thuyết tấm đệm vốn của PGS.TS Trương Quang Thông (2012), khẳng định vốn tự có đóng vai trò là phòng tuyến bảo vệ cuối cùng để chống đỡ các cú sốc rút tiền ồ ạt.

Hệ thống khái niệm chính trong đề tài bao gồm:

  • Thanh khoản tài sản: Khả năng chuyển đổi nhanh chóng các tài sản có sinh lời hoặc không sinh lời thành tiền mặt với chi phí giao dịch thấp nhất.
  • Thanh khoản nguồn vốn: Khả năng tiếp cận, thu hút các khoản tiền gửi mới và vốn vay từ thị trường liên ngân hàng với mức chi phí lãi vay hợp lý.
  • Trạng thái thanh khoản ròng: Mức chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản (từ dòng tiền gửi đang đến, thu hồi nợ, bán tài sản, vay mượn) và tổng cầu thanh khoản (nhu cầu rút tiền gửi, giải ngân tín dụng chất lượng cao, trả nợ vay liên ngân hàng, chi phí hoạt động).
  • Rủi ro thanh khoản: Nguy cơ ngân hàng thiếu khả năng chi trả các nghĩa vụ tài chính đến hạn, buộc phải vay mượn khẩn cấp với lãi suất phạt hoặc bán tháo tài sản sinh lời dưới giá trị sổ sách.

Ngoài ra, luận văn tích hợp bài học kinh nghiệm từ Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo các Ngân hàng Trung ương Đông Nam Á (SEACEN) công bố năm 2010. Mô hình của các quốc gia SEACEN cho thấy việc duy trì tỷ lệ cho vay trên tiền gửi trong khoảng 70% - 81% và nắm giữ lượng lớn tài sản thanh khoản trên nợ ngắn hạn (như Hàn Quốc đạt 122,6%, Myanmar đạt 64,07%, Philippines đạt 51,8%) là điều kiện then chốt để ổn định hệ thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập trong 5 năm liên tục (2008 - 2012) của 18 ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ, kết hợp cùng các Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, số liệu thống kê của Cục Thống kê TP.HCM và các báo cáo định mức tín nhiệm từ tổ chức quốc tế như Moody's và Fitch Ratings. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 18 ngân hàng trong tổng số 23 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng tính đến thời điểm 31/12/2012 theo chuẩn phân loại từ Nghị định 141/2006/NĐ-CP. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của chuỗi dữ liệu; loại trừ 1 ngân hàng thương mại có nguồn gốc nhà nước (MHB) và 4 ngân hàng thiếu dữ liệu tài chính công khai liên tục là Đại Tín, Việt Nam Thương Tín, Bắc Á và Dầu khí Toàn cầu.

Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu chuỗi thời gian, và phương pháp phân tích tỷ số tài chính chuyên sâu. Luận văn thiết lập bộ 8 hệ số đánh giá khả năng thanh khoản gồm:

  • H1: Tỷ lệ Vốn tự có trên Tổng nguồn vốn huy động.
  • H2: Tỷ lệ Vốn tự có trên Tổng tài sản có.
  • H3: Hệ số trạng thái tiền mặt (Tiền mặt và tiền gửi tại NHNN trên Tổng tài sản).
  • H4: Năng lực cho vay (Tổng dư nợ cho vay trên Tổng tài sản).
  • H5: Tỷ lệ Dư nợ cho vay trên Tiền gửi khách hàng (LDR).
  • H6: Tỷ lệ Chứng khoán thanh khoản trên Tổng tài sản.
  • H7: Hệ số trạng thái ròng liên ngân hàng.
  • H8: Tỷ lệ Tài sản thanh khoản trên Nợ ngắn hạn.

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng hóa chính xác cả hai trạng thái tĩnh và động của thanh khoản, giúp bóc tách các điểm nghẽn tài chính trong từng giai đoạn tái cơ cấu. Timeline nghiên cứu bao quát trọn vẹn chu kỳ biến động từ giai đoạn thắt chặt tiền tệ năm 2008, đỉnh điểm khủng hoảng thanh khoản năm 2011, cho đến bước đầu tái lập trật tự thị trường vào cuối năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của khối ngân hàng nhỏ có sự phân hóa mạnh mẽ và suy giảm nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2008 - 2011, mức tăng trưởng huy động của nhóm ngân hàng này đạt trung bình 36,06%/năm (đặc biệt năm 2009 tăng đột biến 76,34% so với mức 35,99% của toàn hệ thống). Tuy nhiên, đến năm 2012, tốc độ tăng trưởng vốn huy động của 18 ngân hàng nhỏ đã giảm xuống mức âm 2,15%. Mặc dù chiếm hơn 50% tổng số lượng định chế tín dụng trong hệ thống, tổng vốn huy động của nhóm chỉ đạt 382.241,8 tỷ đồng, tương đương tỷ trọng khiêm tốn 14,05% toàn ngành. Ngân hàng Phương Nam dẫn đầu về quy mô huy động năm 2012 với 69.540 tỷ đồng, trong khi Ngân hàng Phát triển Mê Kông đạt mức thấp nhất với chỉ hơn 4.000 tỷ đồng.

Thứ hai, tăng trưởng tín dụng giảm tốc mạnh và cơ cấu dư nợ duy trì ở mức thấp. Tốc độ tăng trưởng cho vay của nhóm ngân hàng nhỏ sụt giảm mạnh từ mức 58,13% năm 2009 xuống chỉ còn 10,26% vào năm 2012. Tỷ trọng dư nợ tín dụng của khối này chỉ chiếm trung bình 16,08% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Ngân hàng Đông Á có quy mô cho vay lớn nhất đạt 50.916 tỷ đồng vào năm 2012. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng nhỏ ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng vốn huy động, khiến hệ số H5 vượt xa ngưỡng trần an toàn 80% do Ngân hàng Nhà nước quy định.

Thứ ba, hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời suy giảm sâu sắc do áp lực trích lập dự phòng nợ xấu. Năm 2012, lợi nhuận trước thuế trung bình của 18 ngân hàng nhỏ giảm 32,45% so với năm 2011, đạt bình quân 353 tỷ đồng (so với 522 tỷ đồng năm 2011). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) giảm 36,08% xuống còn 0,62%, và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm 39,75% xuống mức 6,31%. Ngân hàng Nam Việt ghi nhận mức lợi nhuận trước thuế sụt giảm mạnh xuống chỉ còn 3 tỷ đồng năm 2012 do phải tập trung toàn bộ nguồn lực để xử lý nợ xấu và bảo toàn thanh khoản. Ngân hàng Phương Nam dù có quy mô tổng tài sản lên tới 75.270 tỷ đồng nhưng lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 122 tỷ đồng, giảm hơn 50% so với năm 2011.

Thứ tư, sự mất cân đối rõ rệt trong các hệ số an toàn vốn H1 và H2. Hệ số H1 trung bình của nhóm ngân hàng nhỏ năm 2012 đạt 22,83%, nhưng có sự phân hóa cực đoan giữa các định chế: Ngân hàng MD Bank duy trì hệ số H1 trung bình giai đoạn 2008 - 2012 lên tới 58,09%, trong khi Ngân hàng OceanBank chỉ đạt mức 7,98% và SouthernBank đạt 8,35%. Hệ số H2 trung bình toàn nhóm đạt 16,78% năm 2012, trong đó MD Bank cao nhất với 34,79% và OceanBank thấp nhất với 7,23%. Trên thị trường liên ngân hàng, khối lượng giao dịch đã sụt giảm nghiêm trọng từ mức trên 650.000 tỷ đồng vào tháng 3/2012 xuống chỉ còn hơn 100.000 tỷ đồng vào tháng 11/2012 khi Thông tư 21/2012/TT-NHNN chính thức có hiệu lực.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng căng thẳng thanh khoản bắt nguồn từ việc mất cân xứng kỳ hạn nghiêm trọng khi các ngân hàng sử dụng nguồn tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn, đặc biệt là các dự án bất động sản có tính thanh khoản kém. Khi nền kinh tế gặp khó khăn và thị trường bất động sản đóng băng, tỷ lệ nợ xấu chính thức toàn ngành đã tăng từ 2,14% năm 2010 lên 3,3% năm 2011 (trong khi các tổ chức quốc tế ước tính con số thực tế có thể cao gấp 4 lần). Thêm vào đó, việc Ngân hàng Nhà nước áp dụng trần lãi suất huy động 14%/năm theo Thông tư 02/2011/TT-NHNN và Chỉ thị 02/CT-NHNN đã kích hoạt làn sóng chuyển dịch tiền gửi ồ ạt từ các ngân hàng nhỏ sang các ngân hàng thương mại nhà nước lớn có mức độ an toàn cao hơn, đẩy các ngân hàng nhỏ vào thế cô lập về thanh khoản.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu tại khối SEACEN, có thể thấy rõ điểm yếu trong cấu trúc tài sản của các ngân hàng Việt Nam. Trong khi các ngân hàng tại Malaysia, Đài Loan kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ở mức 76% - 81% và sở hữu lượng dự trữ thanh khoản vượt mức từ 200% đến 300% so với quy định, thì các ngân hàng nhỏ tại Việt Nam lại phụ thuộc quá lớn vào kênh vay mượn liên ngân hàng ngắn hạn không có tài sản bảo đảm.

Để tối ưu hóa việc phân tích dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ đường thể hiện chu kỳ biến động của lãi suất liên ngân hàng qua đêm giai đoạn 2011 - 2012 (biên độ dao động từ mức đỉnh 30% - 40% tụt dốc về quanh mức 2% - 3%) kết hợp cùng bảng ma trận tổng hợp tương quan giữa 8 hệ số thanh khoản (H1 đến H8) của 18 ngân hàng. Việc mô hình hóa này chứng minh rõ nét rằng vốn điều lệ danh nghĩa tăng lên 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP chưa đồng nghĩa với việc năng lực thanh khoản thực tế được gia tăng nếu không đi kèm với cơ cấu tài sản lỏng bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực thanh khoản và kiểm soát rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm với các chỉ số mục tiêu và lộ trình thực thi rõ ràng:

  1. Tái cơ cấu danh mục tài sản nợ - tài sản có và kiểm soát chênh lệch kỳ hạn: Hội đồng Quản trị và Ban Tổng Giám đốc các ngân hàng nhỏ cần thiết lập tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (H5) luôn duy trì dưới ngưỡng tối đa 80% theo đúng tinh thần Thông tư 13/2010/TT-NHNN. Đồng thời, các ngân hàng phải chủ động kéo giảm tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn xuống dưới 30% trong giai đoạn 2013 - 2015, từng bước làm sạch bảng cân đối kế toán và xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu bất động sản.

  2. Thiết lập quỹ dự trữ thanh khoản thứ cấp và thực hiện kiểm tra sức chịu đựng: Khối Quản trị Rủi ro tại các ngân hàng cần chủ động nâng tỷ trọng nắm giữ trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao lên mức tối thiểu 15% - 20% trên tổng tài sản lỏng. Định kỳ hàng quý, ngân hàng phải thực hiện các bài kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) theo các kịch bản rút tiền gửi hàng loạt từ 10% đến 25% để xây dựng kế hoạch vốn dự phòng khẩn cấp trước năm 2014.

  3. Đa dạng hóa các kênh huy động vốn dài hạn và nâng cao chất lượng dịch vụ: Khối Nguồn vốn cần đẩy mạnh phát hành các công cụ nợ trung dài hạn như kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng đến 36 tháng với lãi suất cạnh tranh nhằm mục tiêu nâng tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn ổn định lên trên 60% tổng nguồn vốn huy động vào cuối năm 2015, giảm thiểu sự phụ thuộc rủi ro vào thị trường liên ngân hàng.

  4. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ thanh khoản và tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng Nhà nước cần mở rộng danh mục giấy tờ có giá được chấp nhận trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và tái cấp vốn cho các ngân hàng nhỏ, hạ dần lãi suất tái cấp vốn từ 15% về vùng mục tiêu 6% - 7%/năm trong giai đoạn 2013 - 2015. Bên cạnh đó, Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng cần tăng cường giám sát tuân thủ kỷ luật thị trường theo Thông tư 21/2012/TT-NHNN, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, sáp nhập tự nguyện đối với các định chế tài chính yếu kém.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu và cung cấp giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban điều hành và Khối Quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ: Giúp các nhà lãnh đạo ngân hàng ứng dụng bộ công cụ 8 chỉ số H1 - H8 để định vị chính xác sức khỏe thanh khoản nội tại, từ đó xây dựng hạn mức rủi ro thanh khoản động và kế hoạch phân bổ dòng tiền khả dụng hiệu quả.

  2. Cán bộ hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan giám sát tài chính: Cung cấp bức tranh thực tế về tác động lan truyền của các công cụ chính sách tiền tệ (như trần lãi suất huy động và dự trữ bắt buộc) lên hành vi của các ngân hàng nhỏ, hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn vĩ mô.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị, cung cấp phương pháp luận đo lường rủi ro thanh khoản thực chứng và hệ thống dữ liệu chi tiết về giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng tại Việt Nam.

  4. Chuyên viên phân tích tài chính và các nhà đầu tư tổ chức: Giúp giải mã các chỉ số an toàn vốn, đánh giá chất lượng tài sản thực chất và đo lường mức độ rủi ro tiềm ẩn của các cổ phiếu ngân hàng trước khi đưa ra quyết định đầu tư hoặc cấp hạn mức tín dụng liên ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ lại dễ rơi vào tình trạng thâm hụt thanh khoản hơn các ngân hàng lớn? Các ngân hàng nhỏ thường có mạng lưới chi nhánh hẹp và uy tín thương hiệu thấp hơn, khiến chi phí huy động vốn sơ cấp từ dân cư luôn cao. Khi Ngân hàng Nhà nước áp dụng trần lãi suất huy động 14%/năm trong năm 2011, dòng tiền gửi dịch chuyển mạnh sang các ngân hàng lớn, buộc ngân hàng nhỏ phải vay mượn liên ngân hàng với lãi suất cao tới 30% - 40%/năm.

  2. Hệ số H1 và H2 phản ánh điều gì về mức độ an toàn thanh khoản của một ngân hàng? Hệ số H1 đo lường tỷ lệ vốn tự có trên vốn huy động, trong khi H2 đo lường vốn tự có trên tổng tài sản. Vốn tự có đóng vai trò là tấm đệm phòng vệ cuối cùng giúp bù đắp thiệt hại khi tài sản bị giảm giá trị hoặc người gửi tiền rút vốn hàng loạt, tương tự trường hợp SouthernBank có H1 chỉ đạt mức 8,35% dẫn đến tính tổn thương cao.

  3. Thông tư 21/2012/TT-NHNN đã thay đổi cục diện thị trường liên ngân hàng như thế nào? Thông tư 21 quy định các tổ chức tín dụng chỉ được vay mượn trên thị trường liên ngân hàng khi không có nợ quá hạn trên 10 ngày. Quy định này lập tức thanh lọc thị trường, làm quy mô giao dịch giảm từ trên 650.000 tỷ đồng xuống còn khoảng 100.000 tỷ đồng vào cuối năm 2012 và kéo lãi suất qua đêm từ 20% về quanh mức 2% - 3%/năm.

  4. Bài học quan trọng nhất từ các ngân hàng trung ương khối SEACEN đối với Việt Nam là gì? Khối SEACEN chứng minh tầm quan trọng của việc duy trì tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ở mức an toàn 70% - 81% và sở hữu lượng tài sản lỏng lớn chiếm trên 24% tổng tiền gửi. Các ngân hàng Việt Nam cần áp dụng quy trình kiểm tra sức chịu đựng định kỳ để chuẩn bị các kịch bản ứng phó trước cú sốc thanh khoản.

  5. Việc tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP có giải quyết dứt điểm rủi ro thanh khoản không? Tăng vốn điều lệ chỉ giúp nâng cao tỷ lệ an toàn vốn danh nghĩa trong ngắn hạn. Nếu ngân hàng tiếp tục tăng trưởng tín dụng nóng trên 20%/năm và đổ vốn vào các tài sản kém thanh khoản như bất động sản mà không kiểm soát dòng tiền đáo hạn, nguy cơ mất khả năng chi trả vẫn hoàn toàn có thể xảy ra.

Kết luận

  • Rủi ro thanh khoản tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ giai đoạn 2008 - 2012 bắt nguồn từ sự mất cân xứng kỳ hạn nghiêm trọng giữa nguồn vốn huy động ngắn hạn và tài sản cho vay dài hạn.
  • Dữ liệu thực chứng từ 18 ngân hàng cho thấy sự suy giảm mạnh mẽ về tốc độ tăng trưởng huy động (xuống âm 2,15% năm 2012) và lợi nhuận trước thuế toàn nhóm (giảm 32,45%), phản ánh sức ép lớn từ nợ xấu 3,3%.
  • Hệ thống 8 chỉ số thanh khoản H1 - H8 cung cấp công cụ định lượng chính xác, cho thấy sự phân hóa sâu sắc về đệm vốn tự có giữa các ngân hàng với mức chênh lệch hệ số H1 từ 7,98% đến 58,09%.
  • Lộ trình giai đoạn 2013 - 2015 đòi hỏi các ngân hàng nhỏ phải quyết liệt kiểm soát tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi dưới 80%, nâng tỷ trọng tài sản dự trữ thanh khoản lên 15% - 20% và thực hiện kiểm tra sức chịu đựng định kỳ.
  • Ngân hàng Nhà nước cần duy trì tính ổn định của chính sách tiền tệ, mở rộng kênh tái cấp vốn dựa trên giấy tờ có giá và đẩy mạnh tái cấu trúc hệ thống nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa mô hình đo lường rủi ro thanh khoản chuyên biệt cho nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tại một nền kinh tế mới nổi. Các nhà quản trị ngân hàng và chuyên gia phân tích tài chính hãy áp dụng ngay bộ chỉ số đánh giá này vào quy trình kiểm soát rủi ro nội bộ để đảm bảo hoạt động an toàn, bền vững trước mọi biến động thị trường.