phần mở đầu, kết luận luận văn đƣợc bố cục thành ba chƣơng cụ thể: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Trƣớc xu thế phát triển kinh tế thị trƣờng và hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tƣ để khắc phục khó khăn về sự khan hiếm vốn.
Đối với Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển và tích lũy nội bộ trong nền kinh tế còn thấp vốn trong nƣớc thƣờng không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tƣ vốn trong nƣớc do đó cần phải thu hút vốn từ bên ngoài cho hoạt động đầu tƣ phát triển. Xu hƣớng đó làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn đầu tƣ ở mối nƣớc, thƣờng đƣợc chia thành hai loại là vốn trong nƣớc và vốn nƣớc ngoài. Nó làm cho sự vận động của các dòng vốn quốc tế giữa các nƣớc ngày càng gia tăng. Vốn nƣớc ngoài có các hình thức chủ yếu sau: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), việc hỗ trợ nhân đạo từ các quốc gia, tổ chức tài chính quốc tế hoặc cá tổ chức phi chính phủ, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài, vay thƣơng mại từ các ngân hàng nƣớc ngoài hoặc thị trƣờng tài chính quốc tế.
Trong các hình thức trên, hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập nhƣ hiện nay nó lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế mà nguồn vốn của nó thuộc sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. I Lênin về xuất khẩu tƣ bản đã tạo tiền đề cho nền kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Điển hình của chủ nghĩa tƣ bản cũ, trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu hàng hóa. Điểm điển hình của chủ nghĩa tƣ bản mới nhất, trong đó các tổ chức độc quyền thống trị.
Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định đƣợc vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu 7 hƣớng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nƣớc và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên. I Lênin cũng đã khẳng định: Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tƣ bản đạt tới một giai đoạn phát triển trong đó sự thống trị của các tổ chức độc quyền và tƣ bản tài chính đƣợc xác lập; việc xuất khẩu tƣ bản đã có tầm quan trọng bậc nhất; việc phân chia thế giới đã tiến hành giữa các tờ rớt, quốc tế và sự phân chia toàn bộ đất đai trên thế giới giữa những nƣớc tƣ bản lớn đã làm xong. Lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin về tƣ bản và xuất khẩu tƣ bản cho rằng: Sở dĩ có xuất khẩu tƣ bản vì một số nƣớc có hiện tƣợng thừa tƣ bản, nhƣng lại thiếu địa bàn đầu tƣ có lợi, điều này xẩy ra trong thực tiễn khi tƣ bản tài chính trong quá trình phát triển đƣợc xuất hiện “tƣ bản thừa”.
Hiện tƣợng “thừa” tƣ bản ở đây cần đƣợc hiểu, các nhà tƣ bản sẽ nhận đƣợc tỷ suất lợi nhuận thấp nếu đầu tƣ trong nƣớc, còn nếu đầu tƣ ra nƣớc ngoài thì tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Trong khi đó, ở các nƣớc thuộc địa nền kinh tế còn lạc hậu lại cần tƣ bản để đầu tƣ phát triển nền kinh tế, đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nhƣng lại thiếu vốn. Lý do này dẫn đến sự gặp nhau giữa nƣớc xuất khẩu tƣ bản và nƣớc tiếp nhận tƣ bản. Từ đó hình thành đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Theo quan điểm của J.Keynes: Đầu tƣ là nhân tố quan trọng trong việc giải quyết việc làm, vì vậy nhà nƣớc phải sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết nền kinh tế, đặc biệt phải có các chƣơng trình đầu tƣ quy mô lớn để sử dụng lao động thất nghiệp và tƣ bản nhàn rỗi. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của việc thu hút đầu tƣ để phát triển nền kinh tế. Nurkse đều cho rằng các nƣớc đang phát triển phải có "cú huých từ bên ngoài" để phá vỡ "cái vòng luẩn quẩn" của sự nghèo đói, lạc hậu. “Cú huých bên ngoài" theo hai ông chính là việc thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm nâng tổng vốn đầu tƣ xã hội, cũng qua đó để tiếp thu công nghệ, giải quyết việc làm, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng.
Quan điểm của các nhà kinh tế vĩ mô - vi mô về đầu tƣ quốc tế. 8 Trong các tài liệu về đầu tƣ nƣớc ngoài, các lý thuyết kinh tế vĩ mô về lƣu chuyển dòng vốn đầu tƣ quốc tế thƣờng chiếm vị trí quan trọng và đƣợc coi là lý thuyết cơ bản của đầu tƣ quốc tế. Các lý thuyết này, giải thích hiện tƣợng đầu tƣ quốc tế dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tƣ (vốn, lao động, thị trƣờng) giữa các nƣớc, trong đó đặc biệt là giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển. Trên cơ sở mô hình lý thuyết thƣơng mại quốc tế của Heckcher & Ohlin - HO (1933), Richard, S.
Eckaus (1987) đƣợc loại bỏ giả định không có sự di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, công nghệ) giữa các nƣớc để mở rộng phân tích nguyên nhân hình thành đầu tƣ quốc tế. Theo tác giả, từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn đƣợcĐầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tƣ bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tƣ tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tƣ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu tƣ phổ biến và đã đƣợc định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng nhƣ luật pháp của các quốc gia. FDI là một loại hình đầu tƣ quốc tế, trong đó chủ đầu tƣ của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tƣợng họ bỏ vốn đầu tƣ nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác.
FDI là tối đa hoá lợi ích đầu tƣ hay tìm kiếm lợi nhuận ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thông qua di chuyển vốn (bằng tiền, tài sản, công nghệ, trình độ quản lý của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài) từ nƣớc đi đầu tƣ đến nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Nhà đầu tƣ ở đây bao gồm tổ chức hoặc các nhân chỉ mong muốn đầu tƣ khi cho rằng khoản đầu tƣ đó có thể mang lại lợi nhuận cho họ. Quan điểm về FDI của Việt Nam theo Luật đầu tƣ năm 2014: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt 9 hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ và quản lý hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác có liên quan” Đầu tƣ trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam thì FDI là hoạt động bỏ vốn đầu tƣ của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ đó.
Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài; đồng thời FDI là đầu tƣ thuộc kênh tƣ nhân, khác hẳn với đầu tƣ tài trợ (ODA) của Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế. Xuất phát từ bản chất, mục của nhà đầu tƣ chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về FDI nhƣ sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một lượng vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, cùng với các đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ rủi ro và thu lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó. Bản chất của FDI là: Có sự thiết lập về quyền sởi hữu về tƣ bản của công ty một nƣớc ởi một nƣớc khác Có sự kết hợp quyền sởi hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đãi đƣợc đầu tƣ Có kèm theo quyền chuyền giao công nghệ và kỹ năng quản lý Có liên quan đến việc mở rộng thị trƣờng của các công ty đa quốc gia Gắn liền với sự phát triển của thị trƣờng tàii chính quốc tế và thƣơng mại quốc tế - Đối với nhà đầu tƣ: khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới trạng thái bão hòa, thị trƣờng truyền thống trở nên chật hẹp đến mức cản trở khả năng phát huy hiệu quả của đầu tƣ, lợi nhuận trên vốn đầu tƣ không đƣợc nhƣ mong muốn. 10 Trong khi một số quốc gia khác xuất hiện lợi thế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn.
Đây chính là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tƣ chuyển vốn của mình ra đầu tƣ ở nƣớc khác. - Đối với các nƣớc nhận đầu tƣ: các nƣớc nhận đầu tƣ là những nƣớc có một lợi thế so sánh nhƣ có nguồn tài nguyên thiên nhiên, có nguồn lao động dồi dào… nhƣng chƣa hoặc không có điều kiện khai thác do thiếu vốn, thiếu công nghệ tiên tiến, thiếu kỹ thuật và có ít khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao… Chính vì vậy, họ muốn thu hút đầu tƣ nhằm phát huy lợi thế so sánh, tạo nguồn vốn cho đầu tƣ. Các nƣớc này thƣờng là các nƣớc đang phát triển.