Đặt vấn đề Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận chuyên biệt của hoạt động TDTT với mục đích nhằm giáo dưỡng thể chất và chuẩn bị thể lực cho con người, cho thế hệ những con người trong một xã hội nhất định. Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập, thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi con người phải có thể chất khỏe mạnh, tinh thần thoải mái để có thể làm việc trong những điều kiện lao động với tốc độ cao, cường độ thần kinh căng thẳng, đặc biệt là đối với các ngành nghề như: hàng không, hàng hải, quốc phòng an ninh…Vì vậy, yêu cầu đối với việc nâng cao thể chất cho con người ngày càng bức bách. Những năm qua, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm đến công tác GDTC trong các trường Đại học, thể hiện thông qua việc ban hành và thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp; chỉ đạo các trường thực hiện có chất lượng và hiệu chương trình môn học GDTC nội khóa và tăng cường các hoạt động ngoại khóa, cải tiến chương trình sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng trường, tổ chức các giải thi đấu phong trào để động viên, khích lệ sinh viên tham gia tập luyện và đến nay đã có rất nhiều giải đấu truyền thống hằng năm dành riêng cho sinh viên cả nước. Đại học Huế được thành lập tháng 4/1994 theo Nghị định 30/CP của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lại các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố Huế.
Đại học Huế kế thừa truyền thống Viện Đại học Huế ra đời từ năm 1957. Trải qua 58 năm với bao thăng trầm và biến cố lịch sử, hiện nay Đại học Huế đã phát triển vững mạnh và là một trong những Đại học có danh tiếng của Việt Nam với 8 Trường Đại học thành viên và 2 Khoa trực thuộc trong đó có Trường Đại học Ngoại Ngữ. Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế được thành lập ngày 13 tháng 07 năm 2004 theo Quyết định số 126/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập các khoa, bộ môn ngoại ngữ từ các trường thành viên thuộc Đại học Huế. Khi mới thành lập trụ sở của Trường được tạm thời đặt tại 27 Phan Đình Phùng, thành phố Huế.
Đầu tháng 8/2007, Trường chuyển về khu quy hoạch - Làng Đại học Huế, 57 Nguyễn Khoa Chiêm, Phường An Cựu, thành phố Huế. 2 Cho đến nay, đã có một số đề tài của các tác giả nghiên cứu trên các lĩnh vực Giáo dục thể chất học sinh của trường THPT, trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp ở Thành phố Huế và Đà Nẵng. Cụ thể là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Bùi Hoàng Phúc (1998), “ Nghiên cứu hiệu quả môn tập tự chọn trong giai đoạn II của chương trình GDTC cho nữ sinh viên các trường Đại học sư phạm”; Nguyễn Gắng (2000) “Nghiên cứu xây dựng mô hình câu lạc bộ TDTT hoàn thiện trong các trường Đại học và chuyên nghiệp Thành phố Huế”; Võ Văn Vũ (2014) “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao cht lưng GDTC và HĐTT trong trường THPT ở Đà Nẵng”; Nguyễn Khắc Trung (2015) “ Lựa chọn ứng dụng hệ thống bài tập bổ tr trong quá trình giảng dạy môn Bóng rổ cho sinh viên ngành sư phạm GDTC Đại học Huế; Nguyễn Đăng Hào (2015) “Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho sinh viên bóng chuyền khoa GDTC – Đại học Huế. Tuy các nghiên cứu đã giải quyết được rất nhiều vấn đề, song để công tác giáo dục thể chất thật sự mang lại hiệu quả ngoài những vấn đề chung thì cần nghiên cứu áp dụng những bài tập thể lực cho từng môn học tự chọn nói chung và môn bóng chuyền nói riêng phù hợp chương trình đào tạo của trường mình.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu và ứng dụng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thể lực chuyên môn trong môn học Bóng chuyền cho nữ sinh viên Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng các mặt về giảng dạy thể lực môn học Bóng chuyền cho nữ sinh viên Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế, đề tài tiến hành lựa chọn, sắp xếp các bài tập thể lực và lựa chọn các test, xây dựng thang điểm một cách khoa học nhằm đánh giá cho đối tượng nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường. Đồng thời, thông qua quá trình thực nghiệm, đề tài tiến hành xác định hiệu quả các bài tập trong thực tiễn giảng dạy thể lực môn học Bóng chuyền cho nữ sinh viên Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế trong quá trình đào tạo tại nhà trường. Mục tiêu nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết hai mục tiêu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy thể lực môn học Bóng chuyền cho nữ sinh viên Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế.
3 Mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập bổ tr nâng cao thể lực môn học Bóng chuyền cho nữ sinh viên Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Huế.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những chủ trương, đường lối phát triển thể dục, thể thao của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao trong trường học, được thể hiện qua các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ. Sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) đó và đang phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước, từng bước đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Sau nhiều năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng với sự cố gắng chung của các ngành Giáo dục và Đào tạo và ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch từ Trung ương đến cơ sở, với sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Chính phủ và chính quyền các địa phương, công tác GDTC và thể thao trường học đó có bước phát triển đáng khích lệ, góp phần tích cực vào thành tích chung trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Đội ngũ giáo viên, giảng viên TDTT ở các trường học được đào tạo, nâng cao kiến thức, từng bước đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ; dụng cụ tập luyện thi đấu thể thao ở trường học các cấp bước đầu được quy hoạch và đầu tư xây 4 dựng; công tác chỉ đạo điều hành về GDTC tiếp tục được tăng cường; công tác nghiên cứu khoa học về GDTC và y tế học đường ngày càng được chú trọng… Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức các giải thể thao cho học sinh, sinh viên nhằm đánh giá công tác GDTC và luyện tập của các nhà trường. Đặc biệt, các hoạt động lớn được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần, như: Hội khỏe Phù đổng toàn quốc, Đại hội thể thao sinh viên toàn quốc, Hội thi nghiệp vụ sư phạm văn nghệ thể thao các trường sư phạm toàn quốc, Hội thi Văn hoá thể thao các trường phổ thông dân tộc nội trú toàn quốc. Qua các hoạt động phong trào, đó tuyển chọn lực lượng đại diện cho học sinh, sinh viên Việt Nam tham dự các đại hội thể thao học sinh, sinh viên quốc tế đạt được nhiều kết quả tốt. Việt Nam cũng đó đăng cai tổ chức thành công Đại hội thể thao sinh viên Đông Nam Á và nhiều giải thi đấu thể thao quốc tế quan trọng khác.
Tuy có những chuyển biến bước đầu, song nhìn chung công tác GDTC và thể thao trường học chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí có nơi, có lúc cũng bị coi nhẹ, thiếu bình đẳng so với các môn học khác. Cơ sở vật chất cũng nghèo nàn, nên chưa thực sự tạo được sự hứng thú cho học sinh, sinh viên tập luyện và thi đấu; chương trình, giáo trình phương pháp giảng dạy, công tác quản lý chậm đổi mới; đội ngũ giáo viên thể dục cũng thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng chuyên môn; chế độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu. Những vấn đề cơ bản của Bóng chuyền hiện đại. Liên đoàn Bóng chuyền thế giới (FIVB) hiện gồm hơn 200 thành viên - là một trong những Liên đoàn có số thành viên đông nhất.
Bóng chuyền 6 người sau khi được đưa vào chương trình thi đấu Olympic tại Nhật Bản (từ 1964) đã phát triển thêm một số loại hình khác như: Bóng chuyền bãi biển, Bóng chuyền mềm, Bóng chuyền hơi, Bóng chuyền trên cỏ, Bóng chuyền cho người khuyết tật. Tính hấp dẫn, hiệu quả rèn luyện sức khỏe cũng như giải trí đã làm cho Bóng chuyền trở thành môn thể thao không thể thiếu trên thế giới và nước ta [20]. Bóng chuyền là môn thể thao đồng đội thi đấu đối kháng gián tiếp, không va chạm thân thể trực tiếp bởi do lưới ngăn cách, hoạt động thi đấu Bóng chuyền theo hướng toàn diện - nhanh - cao - biến. 5 Toàn diện trong thi đấu Bóng chuyền thể hiện ở việc thực hiện một loạt kỹ thuật cơ bản (chuyền, đệm, phát, đập, chắn) trong một khoảng thời gian ngắn.
Kỹ thuật thực dụng thi đấu (vận dụng cụ thể trong thi đấu); kỹ thuật sở trường, tức khả năng vận dụng điêu luyện vào tình huống nào đó được đào tạo phù hợp với điều kiện cá nhân (chuyền 2, libero, chủ công, phụ công, hoặc sở trường về phát, phòng thủ, chuyền 1, chắn), độc chiêu, tức có trình độ kỹ xảo cao mang tính sáng tạo, độc đáo của cá nhân mà người khác chưa đạt tới. Cuối cùng xuyên suốt mang tính nền móng cơ sở tạo điều kiện cho sự phát triển của tất cả các kỹ thuật trên mà mọi tài năng muốn phát triển đến trình độ cao nhất cần có là công cơ bản (công tay, công thân, công chân, công mắt và năng lực phán đoán cảm nhận). Ngoài toàn diện về kỹ thuật ra còn phải toàn diện về tri thức, vận dụng kỹ chiến thuật cá nhân và tập thể, năng lực thích ứng với hoàn cảnh, sức khoẻ, tâm lý, nhân cách và thể lực chuyên môn. Sự toàn diện thể hiện năng lực, trình độ thi đấu gắn chặt hữu cơ thống nhất ở con người.
Tính toàn diện này là hướng ứng dụng của quá trình đào tạo, huấn luyện, đồng thời là yêu cầu toàn diện của từng cá nhân VĐV, chưa kể phạm vi trình độ tổng hợp một đội bóng hình thành sức mạnh thể hiện về trình độ thi đấu cao trước mọi đối thủ.