CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa cơ bản 1.1 Hải quan điện tử Theo “Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20 tháng 04 năm 2018” thì TTHQĐT là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan thực hiện thông qua hệ thống điện tử của cơ quan Hải quan để thông quan, giải phóng hàng hóa và phương tiện vận tải. Thủ tục HQĐT cơ bản giữa các quốc gia có nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên, việc thực hiện HQĐT có thể có sự biến đổi tùy theo tình hình cụ thể của từng quốc gia, bao gồm quy mô, phạm vi, và cách thức thực hiện. Ở nước ta, việc ứng dụng cộng nghệ vào thủ tục HQĐT được Chính phủ đặc biệt quan tâm vì nó phản ánh nhu cầu ngày càng gia tăng để thâm nhập sâu vào thị trường Quốc tế và phát triển của Hải quan trên thế giới.
Sự khác biệt ở các quốc gia nằm ở mức độ tiếp cận thủ tục HQĐT. Các nước phát triển hơn thì sẽ sử dụng HQĐT ở mức cao hơn do hạ tầng Công nghệ thông tin (CNTT), máy móc thiết bị hiện đại như: Hàn quốc, Singapore. Trong khi đó, một số quốc gia đang phát triển và chưa phát triển thì lại ở mức trung bình, sử dụng chứng từ giấy kết hợp với chứng từ điện tử. Do đó, HQĐT mang lại rất nhiều thuận lợi không chỉ cho cơ quan Hải quan mà cho cả doanh nghiệp.
ỉ Hệ thống Hải quan điện tử VNACCS/VCIS Ngành Hải quan đang từng bước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, với sự tích hợp như thế CNTT đã đóng góp một cách tích cực và đáng kể vào cuộc cải cách và hiện đại hóa của lĩnh vực Hải quan.1 Mô hình hoạt động của hệ thống VNACCS/VCIS Nguồn: Cục Công nghệ Thông tin- Tống Cục Hải quan (2016) Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia, trong hệ thống náyex tích hợp02 hệ thống nhỏ: Đó là Hệ thống thông quan tự động (VNACCS) trong hệ thống này giúp cho doanh nghiệp khai báo hàng hóa của mình và giúp cho công chức hải quan kiểm tra việc khai báo của Doanh nghiệp ; còn Hệ thống thông tin nghiệp vụ (VCIS) đã tích họp các tiện ích giúp cho việc cung cấp chứng từ khai báo cũng như việc quản lý nhận và xử lý chứng từ cửa cơ quan Hải quan được thuận lợi.2 Quy trình thực hiện thủ tục Hải quan điện tử Để tham gia vào quỵ trình thủ tục HQĐT, các bước cụ thể như sau: Theo quy trình 4699/TCHQ-GSQL Ngày 01/11/2013: Người sử dụng đăng ký chữ ký số: Doanh nghiệp có thể vào trang Website của Tống cực Hải quan đăng ký hoặc cơ quan Hải quan hải quan địa phương để đăng ký. Doanh nghiệp sẽ sử dụng phần mềm được cung cấp miễn phí bởi cơ quan Tổng cục Hải quan (phần mềm này cho phép doanh nghiệp khai báo tối đa 20 lần) hoặc doanh nghiệp có thể liên hệ đến các công ty cung ứng phần miền để mua (phần mềm này 8 doanh nghiệp phải đóng tiền theo tháng hoặc năm và không giới hạn số lần khai báo) hiện nay như: Thái Son. Hiện nay, Tổng cục Hải quan đã mở rất nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ cho rất nhiều đại lý hải quan chính vì thế nếu bản thân doanh nghiệp không am hiểu hay rành về khai báo cũng có thể ủy quyền cho đại lý để khai hải quan. Trình tự thực hiện thủ tục HQĐT gồm những bước sau: Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra thông tin, đăng ký vào hệ thống phân luồng tờ khai: Khi Doanh nghiệp truyền tờ khai, đăng ký tờ khai thì hệ thống sẽ tự động tiếp nhận thông tin, sau đó hệ thống sẽ đánh giá rủi ro của hạng doanh nghiệp, phân tích co sỏ và tự động phân luồng và cấp số tờ khai hải quan.
Neu có vướng mắc, Cục Hải quan sẽ hướng dẫn xử lý. Bước 2: Kiểm tra chi tiết hoặc kiểm tra giản đon hồ so hải quan: Lãnh đạo sẽ phân công cho Công chức kiểm tra hồ sơ hải quan và các chứng từ, tài liệu liên quan. Nếu tờ khai phân loại kiểm tra mức 1 (luồng xanh), thì hàng hóa sẽ được chuyển sang bước 4 quy trình này. Còn nếu tờ khai phân loại kiểm tra mức 2 (luồng vàng) và mức 3 (luồng đỏ) sẽ được kiểm tra chi tiết hoặc kiểm tra giản đơn hồ sơ hải quan.
Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa: Lãnh đạo sẽ căn cứ chỉ dẫn rủi ro, chủng loại hàng hóa mà Doanh nghiệp khai báo, thuế suất và tính tuân thủ pháp luật của người khai hải quan sẽ phân cho công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa theo tỷ lệ hoặc nếu xác xuất gian lận hoặc rủi ro cao thì là toàn bộ lô hàng. Bước 4: Kiểm tra nghĩa vụ về xem Doanh nghiệp đã hoàn thành thuế nhập khẩu, xuất khẩu, thuế VAT, lệ phí.: Khi người khai hải quan đã nộp đầy đủ tất cả các loại thuế, phí thì tờ khai sẽ tự động được thông quan. Bước 5: Hoàn tất, lưu và bàn giao hồ sơ: Công chức hải quan sẽ quản lý và lưu hồ sơ để phúc tập hồ sơ hoặc trong quá trình thao tác cần thiết sẽ tổ chức các cuộc kiểm tra sau thông quan.2 Sự hài lòng của khách hàng đối vói dịch vụ hải quan điện tử 1.1 Chất lượng dịch vụ Theo tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng dịch vụ TCVN ISO 9000:2015, “chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ so với các yêu cầu đề ra hoặc định trước của khách hàng”. Theo Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ” Theo Zeithaml và cộng sự (2000): “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng - người được cung cấp dịch vụ về mức độ tuyệt vời hay hoàn hảo nói chung của một thực thể, nó là hoạt động của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ mà khách hàng nhận được.” Theo Champitaz và cộng sự (2004): “Chất lượng dịch vụ là kết quả của việc so sánh giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ khi sử dụng dịch vụ.” Vậy, Chất lượng công vụ là cách mà công dân cảm nhận về trình tự thực hiện các thủ tục hành chính của nhà nước cũng như cách mà công chức nhà nước hướng dẫn, tiếp nhận.
Do đó, để chất lượng dịch vụ tốt thì phải dựa vào thái độ phục vụ, trách nhiệm trong việc và kết quả thực hiện công việc.2 Chất lượng dịch vụ Hải quan điện tử Theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội khóa 13 thì: Thủ tục Hải quan là một dịch vụ hành chính công, bao gồm những thủ tục cần thiết để hàng hóa, phưong tiện vận tải được nhập khẩu, nhập cảnh vào một quốc gia hoặc xuất khẩu, xuất cảnh ra khỏi biên giói một quốc gia. Chất lượng dịch vụ (CLDV) Hải quan là thước đo chung của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan nhằm hỗ trợ tối đa cho hoạt động xuất, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Doanh nghiệp, từ đó gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 10 Chất lượng dịch vụ hải quan điện tử là người khai hải quan cảm nhận hài lòng hay không hài lòng đối với cơ quan Hải quan về cung ứng thủ tục hải quan điện tử. Để đánh giá thì chúng ta cần phải xác định các yếu tố ảnh hưởng vì nó là cơ sở để tìm ta giải pháp để nâng cao chất lượng TTHQĐT.
Theo Nguyễn Hữu Vinh (2016) đã nêu ra 7 yếu tố để phản ánh về chất lượng dịch vụ Hải quan, đó là: Độ tin cậy, năng lực phục vụ, sự cảm thông, cơ sở vật chất, tính công bằng dân chủ, khả năng đáp ứng và tính minh bạch. Mặt khác theo Nguyễn Bích Lệ (2015), CLDV công được phản ánh thông qua các yếu tố: Sự đáp ứng nhu cầu khách hàng, Năng lực phục vụ, Sự tin cậy Cơ sở vật chất và Sự cảm thông. Như vậy, cùng vấn đề nghiên cứu như trên nhưng các nghiên cứu trên đã đưa ra từng yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến CLDV nhưng các yếu tố cơ bản nhất mà các nghiên cứu đều chỉ ra là: Năng lực, Cơ sở vật chất, Sự đáp ứng, Sự tin cậy và Sự cảm thông.3 Sự hài lòng đối với dịch vụ Hải quan điện tử Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Theo Oliver (1980), “sự hài lòng là hàm số của mong đợi, cảm nhận cùng với khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi.” Theo Tse và Wilton (1988) phát biểu “sự hài lòng là mức độ phản ứng của khách hàng, người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự thể hiện) và sự thể hiện thực sự của sản phẳm như là một sự chấp nhận sau khi dùng nó.” Theo Bachelet (1995) thì “Sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ”.
11 Theo Oliva và cộng sự (1995) cho rằng: “Sự chênh lệch, hay mối quan hệ của giá trị sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng nhận được so với những sản phẩm dịch vụ trước đó sẽ cho thấy sự hài lòng của khách hàng”. Theo Oliver (1997), cho rằng “sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng về nhận thức của họ đối vói một sản phẩm hay dịch vụ. Nhận định này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính cũng là sự hài lòng của khách hàng trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ khi nó đáp ứng những mong đợi, ước muốn của họ, có thể bao gồm cả việc đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn.” Chung quan điểm này, Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng: “Sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng thông qua một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mong muốn và yêu cầu của họ”. Khái niệm này đã cụ thể hóa về sự hài lòng của khách hàng là khách hàng sẽ đánh giá được đo lường trên dựa trên sự trải nghiệm trong quá trình sử dụng dịch vụ hay sản phẩm.