phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣ c kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm tra sau thông quan đối với hàng gia công và sản xuất xuất khẩu 3 Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp có hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu tại Cục hải quan tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp có hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN ĐỐI VỚI HÀNG GIA CÔNG, SẢN XUẤT XUẤT KHẨU 1. Khái niệm, đặc điểm Kiểm tra sau thông quan 1.
Khái niệm, đối tượng, phạm vi của Kiểm tra sau thông quan * Khái niệm “Kiểm tra sau thông quan” là thuật ngữ chuyên môn, tiếng Anh đƣ c gọi là “Post Clearance Audit”, tiếng Việt là “Kiểm toán hải quan” hay “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán”. Cách gọi phổ biến trong Tiếng Việt, là “Kiểm tra sau thông quan”. Trên thế giới, khái niệm kiểm tra sau thông quan đƣ c diễn đạt khác nhau, cụ thể: Theo Tổ chức Hải quan thế giới (WCO): “Kiểm tra sau thông quan là quy trình công tác cho phép viên chức hải quan kiểm tra t nh ch nh xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thƣơng mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan hải quan mà hiện tại đang đƣ c các đối tƣ ng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ”. [17] Theo Công ƣớc Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999, tại Phụ lục tổng quát, Chƣơng 2, định nghĩa E3/F4: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp đƣ c cơ quan hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đ ch của họ trong việc xác định t nh ch nh xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thƣơng mại của các bên liên quan”.
Hiệp định Hải quan ASEAN 2012 nêu: “Sau khi giải phóng hàng hóa và nhằm đảm bảo độ ch nh xác của các chi tiết cụ thể trong khai báo hải quan, cơ quan hải quan của nƣớc thành viên kiểm tra bất cứ chứng từ và dữ liệu nào liên quan đến các hoạt động đối với hàng hóa nghi vấn”[17]. Theo Luật Hải quan Việt Nam: “Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trƣờng h p cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã đƣ c thông quan. Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá t nh ch nh xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà ngƣời khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý XK, NK ngƣời khai hải quan”. [12] Từ khái niệm kiểm tra sau thông quan của các tổ chức quốc tế và của Việt Nam có thể thấy rằng kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đƣ c thực hiện sau khi hàng hóa đã đƣ c thông quan để đảm bảo t nh ch nh xác và trung thực của các nội dung khai báo hải quan của các đối tƣ ng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.
Đây là một khâu nghiệp vụ của hoạt động quản lý hải quan đƣ c gắn kết trong mối quan hệ tổng thể với toàn bộ hoạt động kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa XK, NK… Nói cách khác, kiểm tra sau thông quan ch nh là khâu nghiệp vụ cuối cùng để thẩm định lại các khâu nghiệp vụ trƣớc đó dựa trên hồ sơ, tài liệu, chứng từ, sổ sách v.v…của các đối tƣ ng có hoạt động thƣơng mại quốc tế. * Về đối tƣợng kiểm tra Kiểm tra sau thông quan chỉ kiểm tra các đơn vị có liên quan trực tiếp 6 hay gián tiếp đến kinh doanh XNK đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Không phân việt thành phần kinh tế, nguồn vốn sở hữu cũng không chờ đ i sự thoả thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp [17]. Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh XNK ch nh là các chủ hàng XNK (doanh nghiệp và /hoặc cá nhân).
Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu có thể là (nhƣng không chỉ giới hạn trong các đối tƣ ng này) : - Các đại lý khai thuê/ môi giới hải quan : nắm giữ các chứng từ thƣơng mại hải quan, các thông tin khác về hàng hoá và trị giá. - Các doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác : nắm giữ các thông tin giao dịch trƣớc khi h p đồng thƣơng mại và h p đồng thƣơng mại… - Các doanh nghiệp kho vận ngoại thƣơng : nắm giữ các chứng vận chuyển hàng hoá, số lƣ ng bản chất chủng loại đơn giá, tổng trị giá hàng hoá. - Các hãng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu : phát hành và lƣu giữ chứng từ vận chuyển, hành trình của con tàu, cƣớc ph vận tải (để xác định trị giá hải quan và xuất xứ hàng hoá), biên bản hải sự, báo cáo tổn hại hàng hoá (để xem xét trƣờng h p tổn thất trị giá thƣơng mại của hàng hoá - một yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp tới giảm thuế thƣờng bị lạm dụng). - Các hãng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu : nắm giữ các chứng từ bảo hiểm, ph bảo hiểm (một yếu tố cấu thành của trị giá hàng quan) và các chứng từ khác (Trị giá cần bảo hiểm – Insurable Value, Số tiền bảo hiểm – Amount Insued…) để xác định trị giá hải quan, mối quan hệ thƣơng tác về thời gian ghi trên chứng từ bảo hiểm với thời gian ghi trên các chứng từ khác có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiệp vụ xét đoán chứng từ.
- Các ngân hàng thƣơng mại : nắm giữ các chứng từ ghi nhận số tiền thực tế đã chuyển trả cho ngƣời xuất khẩu, tiền bán hàng xuất khẩu trên thị trƣờng nội địa để từ đó có thể phân t ch tìm ra trị giá hải quan và các thông tin khác. 7 - Cơ quan thuế nội địa : nắm giữa các thông tin về giá bán hàng nhập khẩu trên thị trƣờng nội địa, thuế giá trị gia tăng đầu vào - đầu ra, các chi ph h p lý của doanh nghiệp gi p cho việc phân t ch xác định trị giá hải quan. - Ngƣời mua hàng nhập khẩu trên thị trƣờng nội địa : giá thực tế đã mua hàng nhập khẩu trên thị trƣờng nội địa từ đó phân t ch để tìm ra giá nhập khẩu, chủng loại xuất xứ của hàng hoá thực tế đã mua để đối soát với những thông tin này trên hồ sơ hải quan. - Các cơ quan, tổ chức giám định hàng hóa.
Theo luật pháp của nhiều nƣớc thì các đối tƣ ng có liên quan trực tiếp đến thƣơng mại quốc tế (ngƣời nhập khẩu/ngƣời ủy thác) là đối tƣ ng trực tiếp của kiểm tra sau thông qua, các đối tƣ ng khác có trách nhiệm h p tác, gi p đỡ và cung cấp các thông tin cần thiết khi cơ quan Hải quan yêu cầu. * Về phạm vi kiểm tra Căn cứ yêu cầu của mỗi cuộc kiểm tra sau thông quan và từng trƣờng h p kiểm tra, cơ quan hải quan xác định phạm vi kiểm tra sau thông quan [17]: - Kiểm tra việc xuất khẩu, nhập khẩu một mặt hàng của một doanh nghiệp trong một giai đoạn. - Kiểm tra việc xuất khẩu, nhập khẩu nhiều mặt hàng của một doanh nghiệp trong một giai đoạn. - Kiểm tra một hoặc nhiều nội dung (v dụ kiểm tra ch nh sách, trị giá, mã số, xuất xứ) của một hoặc nhiều mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.
- Kiểm tra một hoặc nhiều loại hình xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn. - Kiểm tra tất cả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn. Cơ sở hình thành nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan Cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ theo chiều hƣớng toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, quan hệ giao lƣu kinh tế giữa các quốc gia cũng ngày càng gia tăng. Thƣơng mại quốc tế đã thật sự trở thành động lực phát triển của mỗi quốc gia cũng nhƣ của nền kinh tế thế giới, sự hấp d n và sức cuốn h t của thƣơng mại quốc tế mạnh đến mức không quốc gia nào đủ can đảm từ chối nó.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (World Trade Organization – WTO) thì: nếu tỉ trọng thƣơng mại trong GDP toàn cầu năm 1950 là 7% thì năm 2000 đã là 23%. Thƣơng mại quốc tế năm 1991 tăng 50 lần năm 1950, cũng trong khoảng thời gian này tốc độ tăng trung bình của Thƣơng mại quốc tế là 11,2% /năm gấp 3 lần tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm của Thế giới. Từ năm 1995 đến nay kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm của Việt Nam tăng bình quân 20%. Tình hình thực tế trên đây đã d n đến số lƣ ng hàng hoá xuất nhập khẩu lƣu chuyển qua các cửa khẩu hải quan ngày càng nhiều hơn, cho dù ngành Hải quan có cố gắng đến mức tối đa, tăng cƣờng nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhƣng cũng không thể kiểm tra hết hàng hoá lƣu chuyển qua các cửa khẩu Hải quan.
Thƣơng mại quốc tế phát triển d n đến sự ra đời của các hiệp định thƣơng mại quốc tế song phƣơng (V dụ hiệp định thƣơng mại Việt Mỹ) và đa phƣơng (Các hiệp định: GATT, CEPT, AFTA…) các hiệp định này một mặt tạo điều kiện thuận l i cho thƣơng mại quốc tế phát triển nhƣng mặt khác lại luôn luôn đòi hỏi giảm bớt thủ tục phiền hà, giải phóng hàng hoá ra khỏi các cửa khẩu hải quan càng nhanh càng tốt. Thực tế này đang tạo ra sức ép từ nhiều ph a cho ngành hải quan: - Khối lƣ ng hàng hoá cần phải kiểm tra tăng lên. - Thời gian lƣu giữ hàng hoá để kiểm tra bị r t ngắn lại.