Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Chương 2: Hiện trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1.1 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 1.1 Sản phẩm thông tin - thư viện Thuật ngữ sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.Tùy vào tính chất hoạt động của mỗi ngành có những khái niệm tương ứng.
Trong lĩnh vực TT-TV, dựa vào tính chất hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin khái niệm sản phẩm được định nghĩa: “là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của những người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện”.[10, tr20] Quá trình hoạt động để tạo ra sản phẩm thông tin - thư viện là quá trình xử lý thông tin gồm biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, tổng quan, tổng luận cũng như các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác. Như vậy, sản phẩm thông tin - thư viện đối tượng nghiên cứu của luận văn là các sản phẩm mục lục thư viện, thư mục, danh mục, tạp chí tóm tắt, bài tóm tắt, tổng quan, tổng luận, CSDL, bản tin điện tử, website. Chất lượng của các loại sản phẩm này được phản ánh qua các tiêu chí như “mức độ bao quát nguồn tin”; “chất lượng của các đơn vị cấu thành sản phẩm”; “khả năng cập nhật thông tin” và “khả năng tìm kiếm thông tin qua sản phẩm”. Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện: Chu kỳ sống: mỗi loại sản phẩm thông tin - thư viện có một chu kỳ sống.
Chúng tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế. Từ lúc sinh ra 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể được chia thành 5 giai đoạn: Giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành, suy giảm và hủy. Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trưởng: Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành như là một triết lý. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin - thư viện đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sản phẩm.
Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới: một số nhân tố bên ngoài sẽ thúc đẩy phát triển và giới thiệu những sản phẩm thông tin mới bao gồm: Những sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế. Gia tăng sự lựa chọn và sử dụng thông tin: Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông và internet NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Môi trường tồn tại và nguồn lực: Thực tế ngày nay khối lượng gia tăng nhanh chóng dẫn tới việc khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu, một cơ quan thông tin - thư viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu nhập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản.
Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các SP TT-TV phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thư viện khác. Do đó các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện: tăng trưởng nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phục vụ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Dịch vụ TT-TV: Trên thực tế khái niệm dịch vụ cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất vì tính vô hình và khó nắm bắt của nó. Khác với sản phẩm, các loại dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm bắt hay nhận diện bằng các giác quan, chính vì vậy việc tạo cho khách hàng nhận biết được tiềm năng của dịch vụ, tức là tạo cho khách hàng một cảm giác hữu hình về dịch vụ là rất cần thiết.
Dịch vụ luôn gắn với người cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ, kỹ năng…, chất lượng dịch vụ rất khó xác định ngay cả nhiều khi đối với cùng một cá nhân thực hiện nhưng chất lượng có sự thay đổi theo thời gian. Một sản phẩm có thể được hình thành từ các bộ phận riêng lẻ, sản xuất độc lập.Tuy nhiên, đối với dịch vụ thì không thể tiến hành như vậy. Sự tổn thất do tồn kho của sản phẩm có thể xác định được nhưng tổn thất do tồn kho dịch vụ thì khó xác định được đầy đủ. Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của tác giả Trần Mạnh Tuấn, khái niệm dịch vụ TT-TV được hiểu là “những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung”.[ 10, tr24-25] Dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán bộ thông tin - thư viện.
Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thông tin - thư viện triển khai các dịch vụ, ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thông tin - thư viện tạo ra NDT được thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ TT-TV có thể chia thành các nhóm cơ bản như dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ tra cứu tin, dịch vụ trao đổi thông tin. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của dịch vụ qua các tiêu chí như “chi phí thực hiện dịch vụ”; “chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để cung cấp cho NDT”; “tính kịp thời của dịch vụ” và “tính thuận tiện của dịch vụ”. Việc nắm vững các đặc điểm, tiêu chí này nhằm có chiến lược tổ chức hoạt động các dịch vụ thông tin một cách có hiệu quả.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số đặc tính của dịch vụ thông tin - thư viện: Tính vô hình (Intangibility): Khác với SP TT-TV, dịch vụ thông tin - thư viện không có hình hài rõ rệt, không thể hình dung trước khi nó bắt đầu, không thể lưu trữ như hàng hóa hay nhận diện được bằng giác quan. Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ thông tin, cần tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết các dịch vụ đó. Tính đồng thời: Việc tạo ra các dịch vụ thông tin -thư viện và cung cấp các dịch vụ ấy cho NDT được diễn ra đồng thời. Tính chất không đồng nhất (heterogeneity): Dịch vụ thông tin gắn với cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ, bên cạnh đó chất lượng của các dịch vụ thông tin - thư viện nhiều khi không đồng nhất, yêu cầu của NDT cũng khác nhau, phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian.
Tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability): Thông thường để thực hiện một dich vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Hoạt động thông tin KH&CN là loại hình hoạt động được hình thành do sự phân công laođộng khoa học và đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế nào. Trong hoạt động thông tin KH&CN thì hệ thống SP&DV TT-TV giữ một vai trò, vị trí rất quan trọng.Việc đáp ứng nhu cầu "nắm bắt được thông tin, hiểu được phải thu thập nó như thế nào, xử lý nó ra sao và sử dụng nó cho các mục đích khác nhau" phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống các SP&DV TT-TV. Đối với Viện thì hệ thống SP&DV giữ vai trò vô cùng quan trọng với những ý nghĩa như sau: Giúp nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn NCT của NDT; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nâng cao năng lực kiểm soát tài nguyên thông tin và trang bị thông tin trong xã hội; Bảo vệ an toàn và lâu dài môi trường thông tin (điều này đặc biệt có ý nghĩa khi ta nhìn theo chiều của lịch sử và coi thông tin là một loại di sản văn hóa, chứng tích của nền văn minh); Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong hệ thống thông tin quốc gia; Dễ dàng tạo lập thị trường mới về thông tin. Đối với NDT: Trong môi trường thông tin hiện nay, chỉ với các thao tác rất đơn giản trong một khoảng thời gian cực ngắn và trên cơ sở các thiết bị khá phổ biến, con người có thể nhận được một trữ lượng thông tin mà mình cần rất lớn.
Chính các SP&DV TT đã tạo cho con người khả năng ấy. Liệu con người bị chìm ngập trong đại dương thông tin bao la, có định vị và tìm được cho mình nguồn tin phù hợp hay không? Đây là việc rất khó, nếu không muốn nói là vô cùng khó. Con người chỉ có thể tìm được cái mình cần nếu như họ đến được nơi có thể chứa những cái họ cần. Như vậy, rõ ràng là mức độ hiểu biết về sự phân bố các nguồn thông tin có một vai trò quan trọng trong việc con người có thể tránh khỏi những tác động tiêu cực mà hiện tượng bùng nổ thông tin gây ra.
Cùng một nội dung, thông tin có thể được trình bày ở nhiều tài liệu/vật mang tin khác nhau.Câu hỏi đặt ra đối với NDT là nên lựa chọn tài liệu nào?Trên vật mang tin gì?Thông qua hình thức nào?