phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản trị nhân lực tại Công ty TNHH Thực phẩm Cao cấp Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty TNHH Thực phẩm Cao cấp 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về quản trị nhân lực trong doanh nghiệp 1. Nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về nhân lực Nhân lực là một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Vì vậy vấn đề nhân sự luôn đƣợc quan tâm hàng đầu. Nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con ngƣời. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ và cho đến nay, quan niệm về nhân lực đã có nhiều cách hiểu khác nhau.
Cụ thể: Trong báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 1990 cho rằng:“nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống và con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Nghĩa là, nhân lực bao gồm những ngƣời đang làm việc và những ngƣời trong tuổi lao động có khả năng lao động. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nhân lực cần được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”.
Theo tác giả Hoàng Phê: “Nhân lực là sức người dùng trong lao động sản xuất” hay “sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong mỗi con người, trong nhân cách sinh động của một con người thể lực và trí lực làm cho con người phải hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”. 5 Theo tác giả Nguyễn Quốc Tuấn: “nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công”. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó con ngƣời tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, nhân lực là tổng thể các tiềm năng con ngƣời, trƣớc hết là tiềm năng lao động, gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời, đƣợc huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của một doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu nhân lực là phải xác định vai trò quyết định của con ngƣời bằng lao động sáng tạo để xây dựng xã hội văn minh, không ngừng phát triển và hƣớng tới một mục tiêu đã định. Đề cập đến nguồn lực con ngƣời không chỉ có trí lực (thể hiện kỹ năng lao động, năng lực tổ chức và quản lý), thể lực mà còn phải có phẩm chất đạo đức, nhân cách thẩm mỹ, tác phong làm việc và sự kết hợp giữa các yếu tố đó phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Nhƣng khi xem xét nhân lực, cần xem xét các vấn đề sau: Một là, xem xét nhân lực dƣới gốc độ nguồn lực con ngƣời, yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Hai là, nhân lực gồm hai mặt số lƣợng và chất lƣợng, trong đó mặt chất lƣợng thể hiện ở trí lực, thể lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó.
Ba là, nghiên cứu về nhân lực và phát triển nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại. Vai trò của nhân lực đối với doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải hội đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực. Trong đó, nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhân lực với kỹ năng, trình độ của mình, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội.
Quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng đƣợc tổ chức và điều khiển bởi con ngƣời. Nhân lực thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lƣợng, đƣa sản phẩm ra bán trên thị trƣờng, phân bố tài chính, xác định các chiến lƣợc chung và các mục tiêu 6 cho tổ chức. Không có những con ngƣời làm việc hiệu quả thì mọi tổ chức đều không thể nào đạt đến các mục tiêu của mình. Do đó, trong bất kỳ một xã hội nào nhân lực cũng là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Sau đây là một số vai trò của nhân lực đối với doanh nghiệp: - Nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhân lực đảm bảo cho mọi nguồn sáng tạo trong doanh nghiệp. Chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh đó. Sự sáng tạo giúp doanh nghiệp thu đƣợc nhiều lợi nhuận.
Mặt khác sự sáng tạo cũng giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh của mình. - Nhân lực là một nguồn lực mang tính chiến lƣợc: Trong điều kiện xã hội đang phát triển sang nền kinh tế tri thức thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con ngƣời ngày càng chiếm vị trí quan trọng. - Nhân lực là một nguồn lực vô hạn: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp không ngừng phát triển và nguồn lực con ngƣời là vô tận.
Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời và đảm bảo sự phát triển và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm quản trị nhân lực Quản trị nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con ngƣời trong tổ chức tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản. Một là sử dụng có hiệu quả nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
Hai là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị nhân lực: Theo giáo sƣ ngƣời Mỹ Dimock “Quản trị nhân lực bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trƣờng hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”. 7 Còn giáo sƣ Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lƣợng công việc của mỗi ngƣời đều đạt mức tối đa có thể”. Ngoài ra, khái niệm quản trị nhân lực còn đƣợc trình bày theo nhiều góc độ khác nhau: Ở góc độ tổ chức quá trình lao động: “Quản trị nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lƣợng, thần kinh, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lƣợng.) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con ngƣời”.
Với tƣ cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển ngƣời lao động trong các tổ chức. Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì “Quản trị nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động trong các tổ chức”. Tựu chung lại, quản trị nhân lực đƣợc quan niệm trên hai góc độ: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Nghĩa hẹp của quản trị nhân lực, là cơ quan quản lý làm những việc cụ thể nhƣ: tuyển ngƣời, bình xét, giao công việc, giải quyết tiền lƣơng, bồi dƣỡng, đánh giá chất lƣợng cán bộ công nhân viên nhằm chấp hành tốt mục tiêu, kế hoạch của tổ chức.
Nghĩa rộng xét trên góc độ quản lý, việc khai thác và quản lý nhân lực lấy giá trị con ngƣời làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác và quản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa ngƣời với công việc, giữa ngƣời với ngƣời và giữa ngƣời với tổ chức. Tóm lại, khái niệm chung nhất của quản trị nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Quản trị nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu 8 quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân”. Quan điểm trên dựa trên 4 tiếp cận hiện đại sau đây: Tiếp cận về con ngƣời: Quản trị nhân lực là quản lý con ngƣời trong một tổ chức, do đó phải biết chú ý tới các lợi ích của họ trong quá trình họ thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hơn nữa muốn quản lý tốt họ các nhà quản lý phải rất hiểu biết về con ngƣời, phải biết tôn trọng họ cũng nhƣ biết động viên các khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo.
còn tiềm ẩn trong mỗi ngƣời nhân viên. Nhờ đó mà các xã hội và các doanh nghiệp mới có thể thành công và phát triển nhanh chóng đƣợc. Tiếp cận về quản lý: Quản lý nhân lực là tổng hợp các hoạt động có ý thức nhằm thực hiện các mục đích và mục tiêu của tổ chức thông qua các nỗ lực của cá nhân.