phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được chia thành 3 phần chính: Phần 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp học tập của sinh viên trong học chế tín chỉ Phần 2: Thực trạng tình hình học tập của sinh viên Khoa quản trị kinh doanh tại trường Đại học Dân lập Hải phòng hiện nay. Phần 3: Một số đề xuất và kiến nghị để thực hiện đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng học tập đạt hiệu quả cao theo học chế tín chỉ đối với sinh viên khoa quản trị kinh doanh tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng. 2 PHẦN 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁPHỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Một số tìm hiểu về tín chỉ và học chế tín chỉ 1.
Khái quát về tín chỉ Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington, cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) Thời gian lên lớp. (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu.
(3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài.[5] - Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp với hai giờ chuẩn bị bài trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần. - Đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần với 1 giờ chuẩn bị và kéo dài trong một học kì 15 tuần. - Đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần. Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ tại trường Đại học Quốc gia Hà nội, tín chỉ được cụ thể hóa như sau: 3 Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.
Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn. [5] Theo quy định về học chế tín chỉ tại Học viện tài chính: *Một tín chỉ là một trong các giá trị sau đây: a. 01 tiết học trên lớp và 02 tiết chuẩn bị bài ở nhà trong 01 tuần, kéo dài trong 01 học kỳ 15 tuần (tương đương với 15 tiết học lý thuyết và 30 tiết chuẩn bị bài ở nhà/học kỳ). 02 tiết thực hành, thực tập (gọi tắt là thực hành) ở studio hay trong phòng thí nghiệm và 01 tiết chuẩn bị bài ở nhà trong 01 tuần, kéo dài trong 01 học kỳ 15 tuần (tương đương với 30 tiết thực hành và 15 tiết chuẩn bị bài ở nhà/học kỳ).
03 tiết tự học, tự nghiên cứu ở nhà trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương đương với 45 tiết tự học, tự nghiên cứu/học kỳ). Loại tiết học này được đánh giá và tích luỹ vào kết quả cuối cùng của môn học. Một tiết học là 50 phút. Một tín chỉ có giá trị bằng 15 giờ tínchỉ.
* Giờ tín chỉ: Giờ tínchỉ là một trong các giá trị sau đây: a. 01 tiết học trên lớp và 2 tiết chuẩn bị bài ở nhà/1 tuần. 02 tiết thực hành và 1 tiết chuẩn bị bài ở nhà/1 tuần. 03 tiết tự học, tự nghiên cứu ở nhà/1 tuần.
Học chế tín chỉ. Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo các chương trình học tập các bậc học theo tín chỉ, theo đó người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp bằng theo hình thức tích lũy đủ tín chỉ. Theo thông lệ chung của giáo dục đại học ở Mĩ, một sinh viên được cấp bằng cử nhân khi anh ta tích lũy được 120 4 – 140 tín chỉ, được cấp bằng thạc sĩ khi anh ta tích lũy được 30 – 40 tín chỉ, và được cấp bằng tiến sĩ khi anh ta tích lũy được 90 – 100 tín chỉ[5]. Tuy nhiên, người học được cấp bằng không phải chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ mà họ tích lũy đủ mà còn phụ thuộc vào điểm trung bình chung quy định cho từng học kì, từng kiểu văn bằng (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ).
Những quy định này phần lớn là do từng trường đại học quyết định. Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ so với phương thức đào tạo truyền thống - Thứ nhất: Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa của nó: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. So sánh với phương thức đào tạo truyền thống, một chương trình cử nhân gồm từ 200 – 210 đơn vị học trình, mỗi đơn vị học trình gồm 15 tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp giữa giáo viên và sinh viên (tương đương với 3000 – 3150 tiết), chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức của giáo viên sang sinh viên, không tính đến thời lượng tự học của sinh viên và do đó bỏ qua khả năng tự học, tự tìm tòi và phát triển tri thức của họ.
- Thứ hai: Phương thức đào tạo theo tín chỉ có tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình. Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành. Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình. 5 -Thứ ba: do đặc điểm “tích lũy tín chỉ” trong phương thức đào tạo theo tín chỉ mang lại sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe, v.
- Thứ tư: Phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm và những yêu cầu của người học như là những người sử dụng kiến thức và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và tổ chức nhà nước. - Thứ năm: Chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước. Một khi sự liên thông được mở rộng, nhiều trường đại học công nhận chất lượng đào tạo của nhau, người học có thể dễ dàng di chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ. Kết quả là, áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thống giáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn.
Như vậy có thể thấy phương thức đào tạo theo tín chỉ tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống, phương thức đào tạo theo tín chỉ xem tự học như là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên: ngoài việc nghe giảng và thực hành trên lớp, sinh viên được giao những nội dung để tự học, tự thực hành, tự nghiên cứu; những nội dung này được đưa vào thời khóa biểu để phục vụ cho công tác quản lí và quan trọng hơn, chúng phải được đưa vào nội dung các bài kiểm tra thường xuyên và bài thi hết môn học. Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị 6 trường lao động ngoài xã hội. Vì vậy chuyển đổi sang học chế tín chỉ rõ ràng là phải luôn gắn liền với đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng này. Học tập tích cực - mục tiêu và các phương pháp học tập hiệu quả.
Mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ vừa giúp sinh viên rèn luyện tính chủ động trong học tậpnhưng cũng đòi hỏi tinh thần tích cực trong quá trình học tập của mình. Vì vậy, mấu chốt để học tốt với chương trình đào tạo hệ tín chỉ chính là học thực chất, chủđộng và tích cực đổi mới Đa số các nhà tâm lý giáo dục học cho rằng: thái độ học tập, trong đó động cơ là yếu tố quyết định. Người học nên tự xác định cho mình động cơ đúng đắn bằng cách tự trả lời các câu hỏi: “Học để làm gì? Học cho ai? Học như thế nào?”.Trên cơ sở động cơ và thái độ học tập đúng đắn, tích cực người học cần lập kế hoạch học tập và xác định/áp dụng được những phương pháp học tập hiệu quả.Xác định động cơ và thái độ học tập đúng đắn. Ngay khi còn học tập ở giảng đường đại học, sinh viên phải nhận thức rằng việc học tập, rèn luyện không chỉ có ý nghĩa phục vụ cho bản thân mà còn có ý nghĩa cho xã hội.