CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Cấp tín dụng thực chất là một khoản cho vay của ngân hàng dành cho khách hàng.
Một điều tất yếu trước khi đồng ý giải ngân, về phía ngân hàng, luôn có một khâu quan trọng, đó là thẩm định tín dụng. Theo bài viết trên tạp chí tài chính (03/02/2019) của TS. Nguyễn Thị Hồng Yến cho rằng: “Thẩm định tín dụng là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để đánh giá khách hàng theo các tiêu chí cấp tín dụng nhằm đưa ra những đánh giá khách quan và đầy đủ về khách hàng, làm cơ sở để đưa ra quyết định cấp tín dụng”. Theo quan điểm của IBRD (Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế thuộc ngân hàng thế giới) thì phân tích tín dụng là quá trình xem xét xem tiền cho vay ra có được hoàn trả lại không và người cho vay có sẵn lòng hay thiện chí trả nợ hay không.
Theo quan điểm của BIS (Ngân hàng thanh toán quốc tế) thì phân tích tín dụng là quá trình đánh giá nhằm đảm bảo sự hiểu biết thông suốt về người vay, mục đích và cơ cấu khoản vay cũng như nguồn thanh toán khoản cho vay. Như vậy, có thể thấy, thẩm định tín dụng là một khâu quan trọng bậc nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Cấp tín dụng cũng giống như việc mua bán một loại hàng hóa trên thị trường. Để đạt được sự thỏa thuận giữa người bán và người mua thì giá trị hàng hóa đem ra trao đổi phải tương đương nhau.
Vì vậy có thể coi công việc thẩm định tín dụng chính là hoạt động đánh giá giá trị của “hàng hóa” mà khách hàng đưa cho ngân hàng. Nội dung thẩm định tín dụng của ngân hàng thương mại Anh Nguyễn Hải Phong – Phó Tổng Giám đốc UB Group – Nguyên Phó phòng MB Bank cho rằng: “Đây là bước rất quan trọng trong quy trình nghiệp vụ, nếu làm tốt bước thẩm định này sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro cho Ngân hàng. Việc thẩm định khách hàng và phân tích hồ sơ và phương án vay vốn do chuyên viên phân tích tín dụng chịu trách nhiệm thực hiện với sự phối hợp của chuyên viên khách hàng có liên quan”. Tuỳ theo khách hàng và phương án vay vốn, khi thẩm định, Chuyên viên phân tích tín dụng có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau: Xem xét trên hồ sơ, gặp gỡ trao đổi trực tiếp với khách hàng, xuống kiểm tra thực tế tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kết hợp với các nguồn thông tin khác như: từ bạn hàng; đối thủ cạnh tranh; các cơ quan quản lý; các ngân hàng thông qua mối quan hệ và qua CIC; khách hàng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ,.
để đánh giá khách hàng được chính xác, khách quan. Trong các trường hợp phức tạp, Chuyên viên phân tích tín dụng có thể làm tờ trình báo cáo Ban Tổng giám đốc, Giám đốc Chi nhánh thuê các cơ quan tư vấn thực hiện việc thẩm định. Hoạt động thẩm định ra đời và phát triển dựa trên nguyên tắc 5C hoặc 7C (theo giáo trình HVNH): - Capacity: Năng lực hoạt động của khách hàng; - Charater: Uy tín và đặc điểm khách hàng; - Capital: Vốn kinh doanh của khách hàng; - Conditions: Điều kiện thực hiện kinh doanh của khách hàng; - Collateral: Đảm bảo tiền vay của khách hàng; - Competition: Cạnh tranh trong kinh doanh của khách hàng; - Customer relations: Quan hệ bạn hàng của khách hàng. Trong nội dung chương trình “Banking Workshop Lv2 – Phân tích Báo cáo Tài chính” được UB tổ chức vào năm 2019, nội dung cốt lõi là hướng dẫn thẩm định SME chuyên sâu.
Trong nội dung được chia sẻ, chúng ta có thể thấy rằng đa phần khi phân tích tính hình tài chính doanh nghiệp thì các ngân hàng sẽ thường xuyên đánh giá những tiêu chí sau: Thẩm định điều kiện vay vốn 4 Khách hàng muốn vay vốn phải thỏa các điều kiện cơ bản sau: - Về tư cách khách hàng: + Trên cơ sở các hồ sơ do khách hàng cung cấp, chuyên viên phân tích tín dụng có trách nhiệm tìm hiểu tư cách của khách hàng như có đủ năng lực dân sự, năng lực hành vi dân sự hay không, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động có đúng quy định không, người đại diện pháp nhân đã đúng thẩm quyền chưa,… và đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành để xem xét khách hàng có đủ điều kiện kinh doanh và vay vốn hay không. + Đánh giá uy tín, năng lực và tư cách của người vay vốn hoặc người đại diện pháp nhân: cần tìm hiểu rõ về người vay vốn hoặc người đại diện theo pháp luật về các khía cạnh như: tư cách đạo đức, trình độ và kinh nghiệm quản lý, các chức vụ đã trải qua, tác phong lãnh đạo và uy tín trong quan hệ với các ngân hàng cũng như với các đối tác khách trong quá trình kinh doanh. Tuy nhiên, việc tìm hiểu cần khéo léo và tế nhị. + Xem xét lịch sử hình thành và quá trình phát triển của doanh nghiệp để rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng.
- Về khoản vay: + Có mục đích vay vốn rõ ràng, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, phải có tính hợp pháp, theo quy định hiện hành về loại tiền vay, định hướng vay theo quy định. + Khách hàng có kế hoạch vay vốn nghiêm túc, căn cứ vào lịch sử quan hệ vay vốn của khách hàng như dư nợ vay, doanh số, mức tín nhiệm, quan hệ tiền gửi. + Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. + Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả, có năng lực quản lý điều hành tốt.
+ Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh Mục tiêu của phần thẩm định này là tìm hiểu và làm rõ các khía cạnh liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh của khách hàng một cách đầy đủ nhất để từ đó có kết luận về tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng như lĩnh vực kinh doanh 5 có phù hợp với tình hình hiện tại và tương lai, chủng loại sản phẩm sản xuất hoặc dịch vụ dùng cho đối tượng tiêu thụ nào, khả năng phát triển thị trường và đối thủ cạnh tranh từ đó đánh giá khả năng tồn tại và phát triển của khách hàng để có quyết định cho việc cấp tín dụng một cách chính xác. Việc đánh giá cần phải xem xét các khía cạnh sau: - Lĩnh vực kinh doanh: Cần xem xét lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, hiểu biết và kinh nghiệm của khách hàng trong lĩnh vực đó (thường được thể hiện bằng các hợp đồng đã thực hiện hoặc doanh số của hoạt động kinh doanh này), những ưu thế của khách hàng trong lĩnh vực đó. Nếu là lĩnh vực kinh doanh mới cần tìm hiểu khả năng cạnh tranh hoặc khả năng chiếm lĩnh thị trường hoặc khả năng bán hàng,… của khách hàng vay vốn.
- Sản phẩm: Khách hàng sản xuất, kinh doanh mặt hàng gì, nhu cầu của xã hội về loại mặt hàng đó tại thời điểm xem xét và có thể dự báo trong tương lai, năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, kinh nghiệm của khách hàng trong sản xuất, kinh doanh mặt hàng đó. Ưu thế của sản phẩm mà khách hàng đang kinh doanh so với các đối thủ khác như thế nào, kể cả phương thức bán hàng. - Thị trường: Tìm hiểu các thị trường chính và đối tác của doanh nghiệp (đầu vào và đầu ra), phương thức bán hàng và định hướng mở rộng thị trường trong tương lai, các hình thức hỗ trợ khách hàng, đại lý. - Đối thủ cạnh tranh: Xem xét các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp, các lợi thế và hạn chế của doanh nghiệp so với các đối thủ.
- Cơ cấu tổ chức quản lýcủa doanh nghiệp để thực hiện 4 điểm nêu trên như cách tổ chức các phòng ban, chức năng và quyền hạn của từng phòng ban, phương thức quản lý. - Thiết bị, công nghệ: Đối với các doanh nghiệp sản xuất phải xem xét đến công nghệ sản xuất đang sử dụng thuộc loại công nghệ nào, những ưu nhược điểm của công nghệ đó, máy móc thiết bị ra sao có đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng, của thị trường về mẫu mã, chất lượng, số lượng không. Khi đánh giá tình hình sản xuất của khách hàng phải so sánh với các doanh nghiệp khác cùng loại và với chính khách hàng trong các giai đoạn trước để thấy được những thành công, hạn chế của khách hàng trong thời gian qua, nguyên nhân dẫn đến 6 sự thành công hay hạn chế đó từ đó đánh giá khả năng phát triển của khách hàng trong thời gian tới. Thẩm định thời gian vay - Ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống - Trung hạn: Từ 12 – 60 tháng - Dài hạn: Trên 60 tháng Thẩm định mức độ tin cậy của hồ sơ trình vay Một bộ hồ sơ vay thông thường sẽ bao gồm: - Giấy đề nghị vay vốn.
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều kiện hoạt động. - Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hoặc dự án đầu tư. - Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất. - Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.
Khách hàng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin trên giấy tờ cung cấp cho ngân hàng Thẩm định mức cho vay Thông thường, giới hạn cho vay đối với một khách hàng bao giờ cũng thấp hơn đối với một nhóm khách hàng Thẩm định mức cho vay sẽ dựa trên khả năng trả nợ và tính thanh khoản của tài sản thếp chấp.