Chương 1: Lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp trong thẩm định tín dụng tại NHTM Việt Nam. Chương 2: Thực trạng phân tích phân tích tài chính doanh nghiệp trong thẩm định tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Đống Đa. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong thẩm định tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Đống Đa. 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI NHTM VIỆT NAM 1.1 TÍN DỤNG VÀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng 1.1 Tín dụng ngân hàng Theo Peter S.Rose, tác giả cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại, Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy, dù theo định nghĩa nào thì NHTM cũng là một doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh đặc biệt là tiền tệ, sản phẩm của NHTM có tính đặc thù cao, cả đầu ra và đầu vào đều là tài sản tài chính. Các mảng hoạt động kinh doanh chính của NHTM bao gồm: Huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối, vàng. Cấp tín dụng là việc NHTM thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Nhờ thế mạnh huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế qua việc nhận tiền gửi và đi vay, các ngân hàng sử dụng số tiền ấy để cho vay các cá nhân, các tổ chức kinh tế cần vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và các nhu cầu vốn đa dạng khác. Nghiệp vụ này luôn chiếm từ 60% đến 80%/ tổng tài sản có của NHTM và được coi là một hoạt 10 động quan trọng bậc nhất đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng, cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho xã hội.2 Các hình thức cấp tín dụng Cấp tín dụng bao gồm các hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Các phương thức cho vay phổ biến hiện nay là: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi.
- Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Bảo lãnh ngân hàng rất đa dạng, bao gồm các loại bảo lãnh chủ yếu sau: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước và bảo lãnh thông qua phương thức tín dụng chứng từ. - Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. - Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế - Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế: Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Một trong những nguồn vay lớn nhất trong xã hội là từ các NHTM. Đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi 11 vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn rất đa dạng của nền kinh tế. Để có thể được vay vốn từ ngân hàng, các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu thị trường, khai thác thông tin, không ngừng đổi mới máy móc thiết bị, trình độ quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Mặt khác, với việc giám sát tình hình sử dụng vốn vay của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và của toàn xã hội.
- Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả: Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn.
Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả. - Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ: Một trong những chức năng quan trọng của NHTM là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi muốn tăng khối lượng tiền cung ứng, Ngân hàng nhà nước sẽ giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ để kích cầu nền kinh tế. - Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế: Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra.
Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay, … đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.2 Thẩm định tín dụng và sự cần thiết phải thẩm định tín dụng 12 1.1 Khái niệm thẩm định tín dụng Thẩm định tín dụng là quá trình xem xét, phân tích các tài liệu, các thông tin cần thiết về khách hàng có nhu cầu tín dụng mà ngân hàng đã thu thập được để làm căn cứ quyết định cấp hoặc từ chối cấp tín dụng. Khi lập phương án kinh doanh, khách hàng thường mong muốn được ngân hàng cấp tín dụng nên đã thổi phồng, ước lượng lạc quan về hiệu quả kinh doanh. Do vậy, trước khi xác lập quan hệ tín dụng với khách hàng hoặc quyết định tài trợ cho một phương án kinh doanh cụ thể, ngân hàng phải sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro từ phương án mà khách hàng xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định cấp tín dụng phù hợp.2 Mục đích, ý nghĩa của thẩm định tín dụng - Đánh giá một cách khách quan và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ cho quyết định cho vay.
- Giúp ngân hàng giảm được xác suất 2 loại sai lầm trong quyết định cấp tín dụng, đó là: Từ chối một phương án kinh doanh tốt hoặc quyết định cấp tín dụng đối với một phương án kinh doanh tồi. - Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng khi chấp thuận cấp tín dụng, giúp ngân hàng xây dựng được chính sách và các biện pháp ứng xử với khách hàng trong quá trình quan hệ tín dụng một cách đúng đắn, tạo điều kiện cho cả khách hàng và ngân hàng mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. - Mục tiêu cuối cùng của công tác thẩm định chính là nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng từ đó góp phần ổn định, lành mạnh hóa nền kinh tế.3 Những nội dung cơ bản của thẩm định tín dụng Là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, mắt xích quan trọng của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu sự giám sát chặt chẽ của NHNN và Chính phủ. Do đó, thẩm định tín dụng không chỉ là yêu cầu, đòi hỏi đối với chính bản thân từng ngân hàng mà nó còn được sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, nó đã và đang trở thành các thể chế pháp lý ngày càng cụ thể hơn đối với hoạt động của các NHTM.