Chương I: Một số lí luận cơ bản về thâm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại. Chương II: Công tác thâm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngần hàng TMCP Hàng Hải Chỉ nhánh Hà Nội Chương III: Một số biện pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác thâm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Chỉ nhánh Hà Nội Trên cơ sở những kiến thức tiếp thu tại trường học và những hiểu biết thực tế tại MSB- Hồ Gươm tôi đã thực hiện đề tài này, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, kính mong các quý thây cô, các bạn góp ý để đề tài này được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Đào Văn Hùng, sự tận tình giúp đỡ của các anh, chị đang công tác tại MSB- Hồ Gươm, đặc biệt là các anh chị tại phòng tín dụng đã giúp em hoàn thành tốt đề tài này. Hà Nội, tháng 04 năm 2009 Sinh viên thực hiện Nguyễn Hồng Hải SVTH: Nguyén Hong Hải GVHD: PGS.
Dao Van Hung Chuyén dé thực tập CHUONG I MOT SO LY LUAN CO BAN VE THAM DINH TIN DUNG NGAN HAN CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. NGAN HANG VOI HOAT DONG CHO VAY.1 Khai niém ngân hàng. Từ hàng ngàn năm trước công nguyên khi manh nha hình thành nghề ngân hàng, hoạt động ngân hàng vô cùng đơn giản. Họ chỉ nhận bảo quản tiền và được trả thù lao bảo quản, đổi tiền đúc và an hoa hồng đổi tiền.
Cùng với sự phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá, hoạt động ngân hàng đã phát triển thêm một bước là sử dụng tiền bảo quản đó để cho vay. Ngày nay hệ thống ngân hàng đã phát triển một mức cao, hoạt động ngân hàng ngày càng phong phú hơn như đầu tư vào chứng khoán, tài trợ xuất nhập khâu, đầu tư vào các dự án. Mỗi một quốc gia có những khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại, nhưng nhìn chung ngân hàng thương mại là các tô chức kinh doanh tiền, đồng thời thực hiện 3 nhiệm vụ sau: - Nhận tiền gửi. - Thực hiện tài trợ thông qua cấp tín dụng.
- Đóng vai trò là trung gian thanh toán. - Theo điều 20, bộ luật “ tổ chức tín dụng ”(đã được sửa đổi bố sung năm 2000) định nghĩa: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó, các tô chức tín dụng là những doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, gồm nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Khái niệm hoạt động cho vay.
Hoạt động cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho SVTH: Nguyén Hong Hải 3 GVHD: PGS. Dao Van Hung Chuyén dé thực tập vay chuyển giao tai san cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng. Việc vay vốn ngân hàng là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình.
Tuy nhiên cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động từ người gửi tiền nên phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Nhìn chung khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo ba nguyên tắc sau: 1. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay theo đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thê thiếu trong hoạt động tín dụng.
Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Phần lớn số vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền. Do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định khách hàng vay tiền phải hoàn trá lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho người gửi tiền. Mặt khác, khi ngân hàng là người cho vay thì ngân hàng yêu cầu khách hàng phải trả gốc và lãi đúng hạn, nếu trái với quy định trong hợp đồng tín dụng thì sẽ bị phạt với lãi suất cao hơn.
Vì vậy, nguyên tắc này giúp khách hàng ý thức được việc phải làm sao để sử đụng vốn vay có hiệu quả nhất. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc sử dụng von vay vào mục đích như: dap ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, bố sung vốn lưu động, tăng sản lượng sản phẩm hay vì một mục đích nào đó đều do 2 bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn và tăng khả năng thu hồi nợ sau này.
Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không? Điều này rất SVTH: Nguyễn Hàng Hải 4 GVHD: PGS. Dao Van Hung Chuyén dé thực tập quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hôi nợ vay sau này, Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đồng thời giúp khách hàng đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và cũng cô quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này. Vốn vay phải có tài sản đầm bảo.
Như ta đã biết hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Mặc dù trước khi quyết định cho vay ngân hàng phải trải qua các khâu thu thập, xử lý, phân tích và thâm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vấn chưa thể hạn chế rủi ro tín dụng một cách thấp nhất. Do vậy, đảm bảo tiền vay có thể sử dụng như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Thực hiện nguyên tắc này giúp cho ngân hàng thu hồi lại vốn một khi khách hàng không tuân theo hợp đồng tín dụng.
Vì vậy các loại vật tư hàng hóa, tài sản đảm bảo thế chấp phải có giá trị, dễ phát mãi và được thị trường chấp nhận. Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Do đặc điểm luân chuyên vốn lưu động của doanh nghiệp tại thời điểm nào đó làm cho doanh nghiệp thiếu vốn lưu động cần thiết phải bố sung. Lý do thiếu vốn lưu động là dòng tiền đi vào nhưng đi ra không khớp về thời gian và quy mô.
Do vậy vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp (chủ yếu đáp ứng nhu cầu tồn kho và khoản phải thu) 1. Tín dụng ngăn hạn là loại hình tín dụng có thời hạn dưới ] năm, thường được sử dụng để bố sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân. Đặc điểm tín dụng ngắn hạn - Thời hạn của hợp đồng tín dụng ngắn hạn không quá 12 tháng. - Tín đụng ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp hay tiêu dùng của các cá nhân.
SVTH: Nguyén Hong Hải 5 GVHD: PGS. Dao Van Hung Chuyén dé thực tập - Đối tượng cho vay bao gồm: + Giá trị vật tư hàng hoá là các vật tư, nguyên vật liệu chuẩn bị cho sản xuất và thành phẩm hàng hoá sẵn sàng cho tiêu thụ. + Chỉ phí sản xuất và lưu thông để tạo ra thành phẩm. + Giá trị tiền tệ trong thanh toán bao gồm quỹ tiền mặt chuẩn bị thu mua vật tư hàng hóa, tiền gửi thư tín dụng.
để thu mua vật tư hàng hoá và các chứng từ giao hàng đang trong thanh toán - Lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn và được thực hiện theo mức lãi suất cho vay do tô chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Tín dụng ngắn hạn gắn liền với chu kỳ ngân quỹ và nhu cầu vốn thời vụ của doanh nghiệp, trên thực tế nhu cầu tài trợ ngăn hạn thường xuất phát từ độ lệch trong quả trình lưu chuyên tiền tệ của các doanh nghiệp, tức là có sự lệch pha tạo ra từ sự không ăn khớp về thời gian và quy mô của các dòng tiền vào ra. Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tài sản lưu động thời vụ chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu, doanh nghiệp cũng tìm đến các khoản tín dụng ngắn hạn. Các khoản vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều quá trình luân chuyên vốn lưu động của doanh nghiệp nên thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Xuất phát từ các đặc điểm này, các Ngân hàng thương mại thường xác định thời hạn cho vay dựa trên chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng để có kế hoạch quản lý nợ và hình thức cho vay phù hợp. Một số phương thức cho vay ngắn hạn. Cho vay tieng lan Cho vay từng lần hay cho vay theo món là tiến trình cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu câu vay tín dụng của từng đối tượng vay cụ thê. s Đặc điểm của phương thức cho vay từng lần: - Cho vay theo từng đối tượng cụ thể như nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc tài trợ cho các khoản phải thu.
- Số tiền vay được xác định trên cơ sở các chứng từ mua hàng như hợp đồng kinh tế, hóa đơn,.hoặc bảng kê thành phẩm tồn kho. Ngân hàng có thể cho vay SVTH: Nguyén Hong Hải 6 GVHD: PGS. Dao Van Hung Chuyén dé thực tập toàn bộ nhu cau von để khách hàng thực hiện phương án sản xuất kinh doanh hoặc có thể chỉ tham gia một phần. - Định kỳ hạn nợ cho từng lần vay cu thể dựa vào dự báo lưu chuyên tiền tệ, thời gian hoàn vốn, hạng rủi ro của doanh nghiệp.