CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2011), cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo cách tiếp cận trên cơ sở chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại trong giáo trình quản trị NHM, Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2011) cho rằng cho vay là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay để bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận của hai bên sau thời gian thỏa thuận bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, cho vay được phân loại bao gồm: Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh): là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài quy định tại khoản 4 Điều này, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống của ngân hàng.
Đó là một khoản mục cơ bản của tài sản có của một ngân hàng. Nó phát triển đa dạng và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từ cho vay ngắn hạn đến cho vay với thời hạn dài. Mà thời hạn cho vay càng dài thì tính rủi ro càng lớn, do đó lãi suất cho vay dài hạn lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Cho vay ngắn hạn thường phục vụ chi tiêu sinh hoạt gia đình, hay chi mua nguyên vật liệu, trả tiền lương, bổ sung vốn lưu động tức là nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn.
Vì vậy cho vay ngắn hạn có tính thanh khoản cao hơn, có thể coi như bộ phận đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Trái lại, cho vay trung và dài hạn thường đầu tư vào mở rộng, đầu tư mới sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị khoa học công nghệ, dây truyền sản xuất hiện đại,…tức là những dự án chưa có khả năng sinh lời trong thời gian ngắn. Do đó có tính lỏng thấp, độ rủi ro cao nên có lãi suất cao nhất trong các loại tín dụng. Vì vậy, chất lượng các khoản cho vay, đặc biệt là các khoản cho vay trung và dài hạn mà tốt sẽ mang lại khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng.
Đối với các ngân hàng chuyên doanh sẽ có lợi thế lớn hơn vì đây là những ngân hàng có thế mạnh về vốn, chuyên sâu hơn về cho vay trung và dài hạn, thì có ưu thế cạnh tranh hơn thị trường. Mặt khác, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng cũng thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ bằng việc cho vay bằng vốn ngân sách dự phòng. Nhà nước ủy quyền cho ngân hàng phát hành trái phiếu, kì phiếu để huy động vốn đầu tư phát triển. Khi đó, ngân hàng sẽ được biết đến rộng rãi hơn trong dân chúng không chỉ ở hoạt động cho vay mà cả hoạt động huy động vốn cũng sẽ phát triển, tạo uy tín và danh tiếng cho ngân hàng.
Hoạt động cho vay là hoạt động có tỷ trọng lớn và đem lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng nhưng lại là hoạt động rủi ro nhất. Các ngân hàng thương mại Việt Nam, chiếm hơn 70% chi phí và thu nhập là các hoạt động tín dụng đặc biệt cho vay và vay, chất lượng tín dụng đặc biệt là các khoản vay còn thấp. Do đó, hoạt động 9 của các ngân hàng thương mại Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy cần phải quản lý chặt chẽ hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại.
Hình thức cho vay của ngân hàng thương mại Thông tư 39/2016/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành mới đây đã bổ sung thêm nhiều phương thức cho vay mới phù hợp với thực tế, sửa đổi nội hàm của các phương thức cho vay để bảo đảm phân biệt rõ ràng giữa các phương thức. Cụ thể, 9 phương thức cho vay theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN bao gồm: Cho vay từng lần Cho vay hợp vốn Cho vay lưu vụ Cho vay theo hạn mức: Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán Cho vay quay vòng Cho vay tuần hoàn Ngoài ra, các phương thức cho vay khác được kết hợp 8 các phương thức cho vay của ngân hàng thương mại nêu trên, phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khoản vay. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, trình độ phát triển kinh tế, định hướng phát triển trong từng thời kỳ mà khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có thể thay đổi.
Cách phân loại DNNVV có thể được phân thành hai nhóm chính gồm nhóm các tiêu chí định tính và nhóm các tiêu chí định lượng. Nhóm chỉ tiêu định lượng thường dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường được về quy mô của doanh nghiệp như số lượng lao động, tài sản hay vốn, doanh thu. Cách phân loại định lượng sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc nghiên cứu thực 10 nghiệm tuy nhiên các nhà chuyên môn lại cho rằng nó không đầy đủ để phân biệt với các doanh nghiệp lớn. Nhóm chỉ tiêu định tính dùng để phân loại DNNVV có thể bao gồm các yếu tố như: hệ thống quản lý của doanh nghiệp, chiến lược hay mục tiêu của doanh nghiệp, đặc điểm về tăng trưởng và phát triển, văn hóa doanh nghiệp, vấn đề sở hữu, mức độ chuyên môn hóa hay thị trường tiêu thụ,.
Nhìn chung, các tiêu chí này có thể phản ánh đúng bản chất của loại hình DNNVV, tuy nhiên trong thực tế khó dùng các tiêu chí này để phân định DNNVV mà chỉ dùng để tham khảo hoặc kiểm chứng do các chỉ tiêu rất khó đo lường. Tham khảo tiêu chí phân loại DNNVV của các quốc gia trên thế giới cho thấy, các chỉ tiêu thường dùng là số lao động, tổng doanh thu và tổng nguồn vốn. Tùy điều kiện cụ thể mà mỗi nước có thể chọn một, hai hoặc cả ba yếu tố này hoặc có thể quy định các tiêu chí khác nhau cho từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Sau đây luận văn sẽ giới thiệu cách thức phân loại DNNVV của một số nước trên thế giới cũng như của Việt Nam.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và công ty tài chính quốc tế IFC (2009), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Tại Việt Nam, theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước; các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ – CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hằng năm dưới 300 người.Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV.
11 Luật số 04/2017/QH14 về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội đã đề cập tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định cụ thể tại điều 4: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí là: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hay tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Các tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV theo từng ngành, nghề hoạt động căn cứ theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 11/03/2018, thể hiện ở Bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế tại Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Ngành Tổng doanh Tổng doanh Tổng doanh Số thu/năm Số thu/năm Số thu/năm lao động hoặc nguồn lao động hoặc nguồn lao động hoặc nguồn vốn vốn vốn Nông Tổng Tổng Tổng doanh nghiệp, doanh thu doanh thu thu không lâm hoặc không quá quá 200 tỷ Không Không nghiệp, Không nguồn vốn 50 tỷ đồng đồng hoặc quá quá thủy sản quá không quá hoặc tổng tổng nguồn 100 200 và lĩnh 10 người 3 tỷ đồng nguồn vốn vốn không người người vực công không quá quá 100 tỷ nghiệp, 20 tỷ đồng. xây dựng đồng. Tổng Tổng doanh Tổng doanh thu thu không doanh thu không quá quá 100 tỷ không quá Không Không Thương Không 10 tỷ đồng đồng hoặc 300 tỷ quá quá mại quá hoặc tổng tổng nguồn đồng hoặc 50 100 và dịch vụ 10 người nguồn vốn vốn không tổng nguồn người người không quá quá 50 tỷ vốn không 3 tỷ đồng.
quá 100 tỷ đồng.