Chương 1: Lý luận chung về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hoạt động của Ngân hàng Chương 2: Hệ thống xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng và hệ thống xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm xếp hạng tín dụng (XHTD) Trên thế giới, khái niệm “xếp hạng tín dụng” (Credit rating) đã có từ rất lâu và ngày càng trở nên phổ biến, có nhiều định nghĩa khác nhau về “xếp hạng tín dụng” xét trên nhiều góc độ như sau: - Theo định nghĩa của Standards & Poor’s: XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện chí của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn.
- Theo định nghĩa của Moody: XHTD là ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng cũng như khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng rẽ hoặc của chủ thể phát hành dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản, được thể hiện thông qua các ký tự từ Aaa đến C. - Theo định nghĩa của viện nghiên cứu Nomura: XHTD là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc và/hoặc lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Như vậy, tựu chung lại “Xếp hạng tín dụng là toàn bộ các ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (gốc và/hoặc lãi) của một đối tượng xếp hạng một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống phân loại theo ký hiệu đã được xác định trước trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng xếp hạng đó”. Xếp hạng tín dụng là một trong những công cụ giúp các Ngân hàng thương mại thực hiện quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng.
Tùy thuộc vào mỗi ngân hàng mà thuật ngữ “Credit ratings” có tên gọi khác nhau như “xếp hạng tín dụng nội bộ”, “chấm điểm tín dụng”, hay có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín nhiệm”… nhưng bản 7 chất đều nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng dựa trên hệ thống xếp hạng. Khái niệm hệ thống xếp hạng tín dụng Hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác. Để thực hiện XHTD khách hàng, các tổ chức xếp hạng thường thực hiện chấm điểm tín dụng khách hàng, trên cơ sở kết quả để thực hiện phân loại khách hàng vào hạng phù hợp. Bản chất của việc XHTD là đánh giá, lượng hóa rủi ro tín dụng của khách hàng phát sinh nghĩa vụ tín dụng.
Mức độ rủi ro tín dụng sẽ thay đổi tùy theo từng đối tượng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, căn cứ dựa trên các thông tin như thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Tại nhiều nước trên thế giới, hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay đều thiết lập bảng xếp hạng tín dụng đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ nhằm hỗ trợ thông tin cho việc ra quyết định cho vay và quản lý các khoản nợ. Bên cạnh đó, các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập như Moody’s; S&P’s, Fitch…cũng thực hiện cung ứng dịch vụ xếp hạng độc lập cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng. Liên quan đến hệ thống XHTD tại các NHTM Việt Nam, theo Thông tư số 02/2013/TT- NHNN của Ngân hàng nhà nước định nghĩa: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các quy trình đánh giá khách hàng trên cơ sở định tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình kinh doanh, quản trị, uy tín của khách hàng.
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xây dựng cho từng đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng và những người có liên quan của đối tượng này. Đối tượng của xếp hạng tín dụng Đối tượng của XHTD tại các Ngân hàng bao gồm toàn bộ thông số, dữ liệu của khách hàng tham gia quan hệ tín dụng tại các NHTM như: các thông tin tài 8 chính từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các thông tin phi tài chính (kinh nghiệm của ban quản lý, môi trường kiểm soát nội bộ, sự phụ thuộc vào các đối tác…), các thông tin về nhân thân khách hàng vay, thông tin về khả năng trả nợ… Các NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của khách hàng vay mà chỉ là đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro, từ đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp. Xếp hạng cao của khách hàng chưa thể hiện việc có thể thu hồi đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi vay mà chỉ là cơ sở để đưa ra quyết định đúng đắn về tín dụng đã được điều chỉnh theo dự kiến mức độ rủi ro tín dụng có liên quan đến khách hàng. Việc XHTD chủ yếu dự báo mức độ rủi ro mà ngân hàng sẽ gặp phải khi quyết định cấp tín dụng.
Cơ sở của việc xác định mức độ này dựa trên các thông tin trong quá khứ, hiện tại và đánh giá khả năng trong tương lai. Các thông tin đánh giá khách hàng bao gồm: Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng. Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính thì tuỳ vào từng ngân hàng, có thể liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu và khả năng tăng trưởng của ngành… Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các dấu hiệu không trả được nợ, tình hình số dư tiền gửi, dấu hiệu về pháp lý. Xếp hạng khoản vay dựa trên cơ sở xếp hạng khách hàng và nhóm khách hàng liên quan và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính.
Rủi ro của khoản vay được đo lường bằng xác suất rủi ro dự kiến. Vai trò của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đối với các Ngân hàng Hiện nay, hệ thống XHTD đặc biệt là XHTD doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), theo đó, hệ thống XHTD không ngừng được xây dựng và phát triển nhằm mục đích: a) Phân loại nợ và trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng: 9 Hệ thống XHTD là công cụ để các NHTM thực hiện phân loại nợ (tài sản tín dụng) theo quy định của Ngân hàng nhà nước (NHNN) và theo thông lệ quốc tế. Hiện nay, các ngân hàng căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng để thực hiện phân loại nợ, để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014, các văn bản liên quan khác của Ngân hàng Nhà nước. Từ kết quả phân loại nợ sẽ trợ giúp cho các NHTM tính toán trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế số IAS 39 (phương pháp chiết khấu dòng tiền), phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế.
b) Phục vụ quản lý rủi ro tín dụng và xây dựng chính sách, danh mục khách hàng: Kết quả XHTD giúp các Ngân hàng xác định hợp lý, chính xác ở mức độ cao nhất lượng tổn thất tín dụng theo từng dòng sản phẩm hoặc lĩnh vực hay ngành kinh tế; phân tích được lợi nhuận của các dòng sản phẩm. Tạo điều kiện cho việc xây dựng một cách đồng bộ, rõ ràng, chi tiết và cụ thể các quy trình tín dụng và chính sách khách hàng. Nâng cao công tác quản trị kinh doanh của Ngân hàng tiến tới đáp ứng các thông lệ quốc tế. Hỗ trợ công tác quản trị rủi ro tín dụng toàn hệ thống tới từng khách hàng, theo từng danh mục, lĩnh vực ngành nghề với quy mô khác nhau.
Hỗ trợ ra quyết định cấp tín dụng, kết quả xếp hạng khách hàng là một trong các căn cứ để các Ngân hàng ra quyết định tín dụng. Kết quả xếp hạng góp phần đo lường hợp lý mức độ rủi ro của danh mục tín dụng từ đó xây dựng danh mục tín dụng phù hợp theo định hướng của Ngân hàng từng thời kỳ. Các phƣơng pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và mô hình xếp hạng 1. Các phương pháp XHTD doanh nghiệp a) Phương pháp thống kê (sử dụng mô hình toán học) 10 Phương pháp thống kê là phương pháp xếp hạng khách hàng thông qua quá trình điều tra thống kê, khái quát các thông tin, phân tích dữ liệu và dự báo, từ đó mô hình hóa các vấn đề cần nghiên cứu theo mục tiêu đã định.
Phương pháp này sử dụng rộng rãi các hướng phân tích thống kê theo nhiều chiều, sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê bao gồm cả hiện tại và quá khứ. Căn cứ vào loại phương pháp thống kê được sử dụng, các mô hình thống kê có thể kể đến như: Mô hình hồi quy; Mô hình phân tích phân biệt; Mô hình Logit và Probit; Mô hình mạng Neutral,… Các mô hình này đều tiến hành kiểm định các giả thuyết bằng việc sử dụng các mô hình thống kê trên cơ sở bộ dữ liệu thực nghiệm, với các giả thuyết được sử dụng có liên quan đến việc đánh giá nguy cơ bị phá sản của doanh nghiệp và nguy cơ mức trung bình, các giả thuyết này có thể được chấp nhận một phần hoặc bị bác bỏ. Với việc sử dụng bộ dữ liệu thực nghiệm, phương pháp này thường được áp dụng trong việc đánh giá và XHTD trên phương diện chỉ tiêu tài chính, phi tài chính.