Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại 1. Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Mặc dù khái niệm về DNNVV rất đa dạng và hiện vẫn đang là một chủ đề có nhiều ý kiến khác nhau, có thể tổng hợp một số quan niệm trên thế giới về DNNVV phổ biến hiện nay như sau: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nêu khái niệm DNNVV như sau: “DNNVV là doanh nghiệp không nhận trợ cấp, là công ty độc lập và tuyển dụng một số lao động nhất định tùy theo quy định của từng quốc gia”(OECD,2009).
Theo khái niệm này thì OECD nhấn mạnh là không nhận trợ cấp của Chính phủ, hoạt động là một pháp nhân độc lập và có quyền sử dụng lao động theo quy định pháp lý của quốc gia sở tại. Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (EC), “Liên minh Châu Âu định nghĩa DNNVV bao gồm các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp cỡ vừa mà có thể hoặc không thể hợp nhất lại với nhau. DNNVV đại diện cho một phân khúc rất phức tạp, từ các doanh nghiệp riêng lẻ không thể hợp nhất đến các công ty cổ phần có mã giao dịch chứng khoán”. EC tiếp cận DNNVV từ góc độ cấu thành của các loại DN và mức độ hợp nhất thấp và có thể phát hành chứng khoán đối với Công ty cổ phần.
Ở Việt Nam, sự thành công trong phát triển kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các DN, đặc biệt là trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường thì doanh nhiệp quy mô nhỏ và vừa có ý 6 nghĩa vô cùng quan trọng. Do đó, nhóm các DNNVV rất được chú trọng và quan tâm tại Việt Nam. Khái niệm DNNVV được biết đến ở Việt Nam từ những năm 1990 đến nay. Theo tác giả Nguyễn Thành Độ chủ biên giáo trình Quản trị kinh doanh cho rằng : “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở KD đã đăng ký KD theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo tổng doanh thu hoặc số lao động bình quân năm” Ngày 26/8/2021 Chính phủ ban hành Nghị định 80/2021/NĐ-CP, theo đó, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa: - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. 7 - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Khu Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng vực vốn Số LĐ DT vốn Số LĐ DT vốn Số LĐ DT (tỷ (tỷ (người) (tỷ (tỷ (người) (tỷ (tỷ (người) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) Nông, lâm 20 - 100- 50 - nghiệp ≤3 ≤ 10 <3 3-20 10-100 3-50 100 200 200 và thủy sản Công nghiệp 20 - 100- 50 - ≤3 ≤ 10 <3 3-20 10-100 3-50 và xây 100 200 200 dựng Thương 50 - 50 - 100 - mại và ≤3 ≤ 10 <3 3-50 10-50 3-100 100 100 300 dịch vụ (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nghị định 80/2021/NĐ-CP) Như vậy, với những quan điểm tổng hợp trên và những quy định thực tế hiện nay khái niệm DNNVV có thể hiểu là: DNNVV ở Việt Nam là những DN có quy mô về vốn hoặc lao động tương đối nhỏ và thỏa mãn các quy định 8 theo từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau của pháp luật. Nội hàm khái niệm về DNNVV được quy định ở quy mô vốn, lao động sử dụng trong doanh nghiệp. Giới hạn về quy mô vốn, lao động là tiêu thức hiện nay các nước thường sử dụng để nhận dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Giới hạn này thay đổi theo thời gian và có sự khác biệt về không gian qua từng thời kỳ biến đổi kinh tế - xã hội của từng quốc gia. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ * Ưu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Mỗi doanh nghiệp ở mỗi ngành nghề, lĩnh vực hay ở các quốc gia khác nhau đều có những đặc điểm nổi bật khác nhau. Tuy nhiên, khi so sánh với các doanh nghiệp quy mô lớn, DNNVV nhìn chung có một số đặc điểm được xem như những ưu thế, cụ thể như sau: DNNVV được thành lập dễ dàng vì không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động không nhiều, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp. Vì vậy, DNNVV thường gặp thuận lợi hơn trong việc thâm nhập thị trường mới, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc những mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao nhưng đi kèm thường là rủi ro lớn.
Đồng thời, DNNVV cũng có nhiều động cơ để hướng vào các hoạt động kinh doanh mới mang tính rủi ro cao vì với tính chất nhỏ bé về quy mô, DNNVV sẽ khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong các hoạt động kinh doanh thông thường. Mặc dù cần ít vốn đầu tư để hoạt động nhưng DNNVV vẫn có khả năng trang bị những công nghệ mới và tương đối hiện đại. Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, DNNVV ngày càng có nhiều khả năng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ hiện đại vào trong hoạt động của mình, nhờ đó đạt được năng suất lao động cao và cung cấp những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt. * Một số hạn chế của DNNVV Ngoài những đặc điểm mang tính ưu điểm như trên, DNNVV cũng có nhiều điểm hạn chế chung so với các doanh nghiệp quy mô lớn.
Chính từ đặc 9 điểm cần ít vốn để hoạt động nên DNNVV bị hạn chế về khả năng cạnh tranh. Do tiềm lực tài chính thấp nên DNNVV thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, các dự án đầu tư lớn và trong thời gian dài. Cũng do nguồn vốn hạn chế nên DNNVV thường gặp khó khăn trong việc đầu tư cho nghiên cứu thiết kế cải tiến công nghệ, mua sắm và trang bị những công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn vốn lớn, hạn chế trong việc đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên của mình, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế - DNVVN tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp - Giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - Khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Thúc đẩy nền kinh tế năng động.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa - Góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất Vai trò quan trọng nhất của tín dụng ngân hàng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp duy trì được hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp phải đồng thời ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra ở các doanh nghiệp, khi đó tín dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn nhằm tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn. Nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
10 - Giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Muốn tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp nhỏ và vừa phải xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, đem lại lợi nhuận để thực hiện tốt các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. Do vậy, tín dụng ngân hàng thúc đẩy doanh nghiệp phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. - Tín dụng ngân hàng giúp hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn.