Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh hoạt động, tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đóng vai trò rất quan trọng, tạo nên sự đa dạng, phong phú của thị trường hàng hóa và dịch vụ, đóng góp vào sản lượng kinh tế quốc dân, tạo cơ hội việc làm, sử dụng một tỷ trọng lớn nguồn lực lao động. DNNVV giúp khai thác và phát huy các nguồn lực tại chỗ, tận dụng tối đa nguồn lực quốc gia, giảm mất cân đối giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, trong thời kỳ suy thoái như đại dịch Covid-19, các DNVVN với khả năng ứng biến linh hoạt và năng động sẽ đóng vai trò giảm thiểu những cú sốc cho nền kinh tế khi có biến động này. Và quan trọng nhất, đó là sự tăng trưởng làm cho các doanh nghiệp nhỏ trở nên lớn hơn.
Theo World Bank (2021), DNNVV có vai trò quan trọng trong hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đại diện cho khoảng 90% doanh nghiệp và hơn 50% việc làm trên toàn thế giới, đóng góp tới 40% GDP và tạo ra 7/10 việc làm ở các nền kinh tế mới nổi. Đối với các quốc gia thuộc OECD, số lượng DNNVV chiếm khoảng 99% với giá trị GDP đạt gần 60% (OECD, 2019). Các DNNVV là nguồn tạo việc làm chính trên toàn thế giới trong hai thập kỷ qua (Mateev và Anastasov, 2010). Ayyagari và cộng sự (2007), trong một nghiên cứu về nền kinh tế của 76 quốc gia trên thế giới đã nhận định DNNVV có vai trò quan trọng trong việc đóng góp việc làm và GDP đối với các quốc gia.
Chín trong số mười việc làm mới trên toàn thế giới được tạo ra bởi các doanh nghiệp nhỏ. Và đến năm 2030 cần có 3,3 triệu việc làm mỗi tháng tại các thị trường mới nổi để hấp thu lực lượng lao động ngày càng tăng (IFC, 2017). Dựa trên dữ liệu cho đến năm 2020 tại các quốc gia Nam Á, số lượng DNNVV chiếm trung bình 99,6% trên tổng số doanh nghiệp, chiếm 76,6% tổng lực lượng lao động, đóng góp vào GDP quốc gia chiếm 33,9%, và chiếm 47,0% tổng giá trị xuất khẩu. Tại Đông Nam Á, tỉ lệ lao động thuộc DNNVV chiếm 67%/ tổng số giai đoạn 2010 – 2020, và tại Việt Nam, DNNVV chiếm gần 40% tổng lực lượng lao động năm 2019 (ADB, 2021).
2 Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD (2005), doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là các công ty độc lập, thường được xác định dựa trên các tiêu chí như số lao động và vốn của doanh nghiệp (DN). Đối với Liên minh châu Âu, số lao động trong DNNVV là nhỏ hơn 250. Một số quốc gia khác là nhỏ hơn 200 lao động. Tại Mỹ, số lao động trong DNNVV là nhỏ hơn 500.
Các DN nhỏ thường là những DN có ít hơn 50 lao động, trong khi các DN siêu nhỏ có nhiều nhất là 10, hoặc trong một số trường hợp là 5 lao động (OECD, 2005). Tại Việt Nam, DNNVV nói chung đối với các ngành được qui định có số lao động nhỏ hơn hoặc bằng 300 người, doanh thu nhỏ hơn hoặc bằng 300 tỉ đồng, và vốn nhỏ hơn hoặc bằng 100 tỉ đồng (Nghị định số 39/2018/NĐ-CP). Theo IFC (2010), có sự khác biệt trong định nghĩa DNNVV tại các quốc gia trên thế giới. Trong các mục tiêu hoạt động, Ngân hàng Thế giới cũng không sử dụng cùng một định nghĩa về DNNVV (WBG, 2019).
Tiêu chí phân loại sẽ khác nhau đối với các lĩnh vực khác nhau, tùy thuộc vào đơn vị quản lý hoặc Chính phủ của quốc gia đó (Yoshino & Taghizadeh-Hesary, 2015). Gonzales và cộng sự (2014), đã kết luận không có định nghĩa chung cho DNNVV dựa trên khảo sát từ 155 quốc gia/tổ chức trên thế giới, với hơn 267 định nghĩa. Trong đó, đa số quan điểm thống nhất tiêu chí xếp loại DNNVV dựa trên số lao động, vốn và doanh thu. Tại Việt Nam, DNNVV cũng có những đặc điểm giống như các DNNVV trên thế giới và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia.
DNNVV Việt Nam chiếm 96% tổng số công ty cả nước, sử dụng 47% lực lượng lao động và chiếm 36% giá trị gia tăng quốc gia, chiếm 88% số doanh nghiệp xuất khẩu và chiếm khoảng một nửa khối lượng xuất khẩu (OECD, 2021). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022), bình quân giai đoạn 2016 – 2020, DNNVV chiếm 97,2% trong tổng số doanh nghiệp cả nước, thu hút 38,8% tổng số lao động toàn bộ doanh nghiệp cả nước, thu hút 31% tổng số vốn của toàn bộ doanh nghiệp, và tạo ra 6,351 triệu tỉ đồng doanh thu thuần, đạt 27,6% doanh thu của toàn bộ doanh nghiệp. Tuy đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng hiện nay DNNVV phải chịu nhiều áp lực khó khăn. Do bị ảnh hưởng dồn dập bởi chiến tranh thương mại, đại dịch Covid-19, chiến tranh quân sự dẫn đến thương mại, đầu tư toàn cầu giảm mạnh do sự gián đoạn, đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất và tiêu dùng.
Sự thiếu hụt nguyên, nhiên vật liệu đầu vào 3 cũng như sụt giảm thị trường tiêu thụ đầu ra đã khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, giảm quy mô, có nguy cơ phá sản. Theo IMF (2022), đòn bẩy phi tài chính của doanh nghiệp và hộ gia đình gia tăng ở nhiều quốc gia trong thời kỳ đại dịch. Trong tương lai, điều này có thể tạo ra một số thị trường tín dụng các lỗ hổng khi lãi suất và phí bảo hiểm rủi ro tăng lên. Chiến tranh làm tăng nguy cơ phân mảnh nền kinh tế thế giới thành các khối địa chính trị với các tiêu chuẩn công nghệ riêng biệt, hệ thống thanh toán xuyên biên giới và tiền tệ dự trữ, đòi hỏi sự điều chỉnh chi phí, chuỗi cung ứng, cấu hình lại mạng lưới sản xuất (IMF, 2022).
Theo IFC (2017), 65 triệu doanh nghiệp, hay 40% doanh nghiệp chính thức siêu nhỏ, nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển, có nhu cầu tài chính chưa được đáp ứng là 5,2 nghìn tỷ đô la mỗi năm. Ở các nước đang phát triển, các DNNVV chiếm hơn một nửa tổng số việc làm chính thức. Nhưng những doanh nghiệp này thường phải vật lộn để có được nguồn tài chính cần thiết để phát triển và tạo việc làm (IFC, 2021). Kết quả này cũng phù hợp với quan điểm của OECD (2019), ADB (2014), Beck và Demirguc-Kunt (2006), Oliveira và Fortunato (2006).
Mueller và Zimmermann (2008), cho rằng thách thức tiếp cận tài chính, hạn chế tín dụng, thiếu nguồn vốn tự có và vốn vay là những trở ngại chính đối với sự tồn tại và tăng trưởng của DNNVV trên thế giới. Tại Việt Nam, tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại và sụt giảm (Bộ KH&ĐT, 2022). Tương tự như DNNVV ASEAN, DNNVV Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức như lạm phát, biến đổi khí hậu, chuỗi cung ứng gián đoạn và thiếu lao động kỹ thuật cao. Mặt khác, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều do biến đổi khí hậu toàn cầu.
Hệ quả của thời tiết cực đoan, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lũ, sụt lún, sạt lở… gây thiệt hại nặng nề có thể dẫn đến hậu quả nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, giảm quy mô, có nguy cơ phá sản. Việt Nam lại là quốc gia đang phát triển, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn, công nghệ, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài, năng lực quản lý, cạnh tranh còn yếu, do đó mức độ khó khăn lại càng lớn hơn. Kết quả điều tra năng lực cạnh tranh của các địa phương Việt Nam năm 2021 (PCI 2021) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam -VCCI, có 47% doanh nghiệp được khảo sát trả lời gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. 33% doanh nghiệp tư nhân trong nước và 18% doanh nghiệp FDI cắt giảm số lao động với tỉ lệ giảm tương ứng là 50% và 17% lực lượng lao động.
Đối 4 với doanh nghiệp FDI xuất khẩu, tỉ lệ cắt giảm lao động còn cao hơn. Mối quan tâm nhất của các doanh nghiệp tư nhân định hướng nội địa là thiếu hụt dòng tiền (VCCI, 2021).2 Tổng quan các nghiên cứu về tăng trưởng của DNNVV và tính bức thiết của nghiên cứu Sự tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ thường được coi là mục tiêu cho sự can thiệp chính sách của các quốc gia. Do có vai trò rất quan trọng nên trên thế giới từ lâu đã có nhiều nghiên cứu về tăng trưởng của DNNVV. Nền tảng mà các nghiên cứu về DNNVV ngày nay kế thừa và phát triển đã có từ thập niên 30 của thế kỷ 20.
Tại Pháp có nghiên cứu của Gibrat năm 1931. Tiếp theo là các nghiên cứu tại Anh, điển hình là của Penrose năm 1959, Hart và Prais năm 1956, Marris năm 1964. Tại Mỹ, có các nghiên cứu của Hymer và Pashigian năm 1962, Mansfeld năm 1962 và Hall năm 1987. Đến nay, đã có nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới thực hiện nghiên cứu tăng trưởng của DNNVV, điển hình có thể kể như: * Đối với các nghiên cứu trên phạm vi chung các quốc gia trên thế giới IFC (2021) đã dựa trên bộ số liệu của 129 quốc gia đang phát triển, giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015, nhận thấy, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển, trung bình khoản vay 1 triệu đô la Mỹ có liên quan đến việc tạo ra thêm 8,15 công việc cố định mỗi năm, khi so sánh với các doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận tài chính.
Zhang và các cộng sự (2022) đã sử dụng thước đo tăng trưởng lao động để đưa vào mô hình nghiên cứu mẫu số liệu gần 1.800 doanh nghiệp thuộc 12 quốc gia trên thế giới, kết quả cho thấy hiệu quả của chính phủ, sự ổn định chính trị và không có bạo lực có liên quan tích cực với sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trẻ hơn và ngoài quốc doanh phát triển nhanh hơn các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp già hơn. Kinh nghiệm quản lý không ảnh hưởng đến tăng trưởng của công ty. * Khu vực châu Mỹ Để nghiên cứu tác động của quy mô và tuổi doanh nghiệp đến tăng trưởng của doanh nghiệp, Evans (1987) đã sử dụng thang đo tăng trưởng lao động với phương pháp hàm hợp lý cực đại nghiên cứu hơn 42 nghìn doanh nghiệp thuộc 100 ngành sản xuất tại Mỹ giai đoạn 1976 – 1980.
Kết quả nghiên cứu là qui mô và tuổi của doanh nghiệp tác động tiêu cực đến 5 tăng trưởng lao động của doanh nghiệp.