Chương 1: Lý luận chung về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Trung tâm Thông tin tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Trung tâm Thông tin tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Luận văn trình bày sự cần thiết phải hoàn thiện mô hình XHTD doanh nghiệp tại CIC.
Việc nghiên cứu tập trung vào phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra các biện pháp, bổ sung các chỉ tiêu nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng đang sử dụng tại CIC, giúp có thêm 1 kênh thông tin đáng tin cậy cho các NHTM và các nhà đầu tư bằng những công cụ tiên tiến phù hợp chuẩn mực quốc tế. Kết quả của luận văn mang tính áp dụng thực tiễn cao trong việc nâng cao vài trò của CIC, đặc biệt trong lĩnh vực XHTD còn nhiều mới mẻ, góp phần hỗ trợ giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1.
Lý luận chung về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1. Khái niệm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Thuật ngữ xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín dụng (Credit rating) là thuật ngữ do John Moody đưa ra năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt”, khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng đầu tiên cho 1.500 trái phiếu của 250 công ty trên TTCK Mỹ theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ AAA đến C. XHTD là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Theo Standards & Poor: XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn.
Theo Moody's: XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa cho đến C. Tóm lại, tuy có nhiều khái niệm khác nhau về XHTD DN nhưng các khái niệm này đều có điểm chung “XHTD DN là đánh giá uy tín tín dụng tổng quát của DN trong việc thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết tài chính đối với các đối tác (ngân hàng, nhà cung cấp, cổ đông…) trong một khoảng thời gian nhất định”. Bản chất của việc XHTD DN trong hoạt động ngân hàng là việc áp dụng các phương pháp, công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình hoạt động của DN, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của DN đó cũng như đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của DN đối với khoản vay nhất định như trả lãi và gốc nợ vay khi đến hạn, nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng. Mức độ rủi ro tín dụng 5 thay đổi theo từng DN và được xác định thông qua quy trình xếp hạng bằng thang điểm, tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định và phù hợp với thông lệ quốc tế trên cơ sở dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính của DN đó tại thời điểm xếp hạng.
Mục đích xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Thứ nhất, là đánh giá khả năng tin cậy về tài chính của DN khi đứng trên giác độ ngân hàng, dựa trên cơ sở số liệu, các BCTC và báo cáo khác của DN để nhận xét đánh giá tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại và tương lai của DN nhằm xác định khả năng thu hồi vốn và lãi vay. Nói cách khác, mục đích của việc XHTD DN là lường trước các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng để đưa ra các quyết định hợp lý về lãi suất, hạn mức tín dụng, các quyết định cho vay, không cho vay, hay thu hồi nợ. Thứ hai, là phục vụ công tác điều hành quản lý của Ngân hàng Trung ương, giúp Ngân hàng Trung ương có thêm thông tin hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách tiền tệ tín dụng hợp lý và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Thứ ba, việc XHTD DN còn giúp cho bản thân DN biết được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và của bạn hàng, từ đó có thể lắng nghe ý kiến chuyên gia để cải thiện XHTD của bản thân DN, tăng cường uy tín đối với đối tác.
Yêu cầu của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Việc XHTD DN phải đáp ứng những yêu cầu sau: Tính đầy đủ: thông tin đầu vào phải đảm bảo kịp thời, trung thực, tin cậy, đây là yêu cầu hàng đầu đối với mọi nguồn thông tin nói chung. Tính đầy đủ của thông tin được hiểu theo nghĩa là thông tin đó phải xác thực, có nguồn cung cấp rõ ràng, đáng tin cậy và phải thường xuyên được cập nhật. Tính đầy đủ còn thể hiện qua việc tính toán tất cả các chỉ tiêu cần thiết để đánh giá đúng đối tượng cần nghiên cứu. Tính chính xác: XHTD DN và các chỉ tiêu phân tích phải khoa học, được áp dụng rộng rãi, được thừa nhận trong khu vực, quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, có tính khả thi và phù hợp khả năng.
Tính khách quan: kết quả XHTD DN được công bố rộng rãi và phải do các tổ 6 chức xếp hạng trung gian đứng ra thực hiện để đảm bảo tính khách quan trong việc đưa ra kết quả xếp hạng. Tính trung thực: trong quá trình phân tích và xếp hạng, các thông tin, dữ liệu sử dụng để phân tích, cũng như kết quả xếp hạng đối DN phải được đảm bảo trung thực, giữ nguyên bản chất, không được làm sai lệch thông tin theo ý muốn chủ quan của bất kỳ đối tượng nào. Nội dung cơ bản của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1. Các phƣơng pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Để xếp hạng tín dụng DN, các tổ chức xếp hạng trên Thế giới có thể sử dụng phương pháp chuyên gia hoặc mô hình toán học hoặc cả hai.
Phương pháp chuyên gia (analyst driven ratings): Một cách tổng quát, các tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ phân công một nhà phân tích đứng đầu, kết hợp với một đội ngũ chuyên gia để đánh giá khả năng thanh toán nợ của đối tượng cần xếp hạng. Các nhà phân tích sẽ tìm kiếm thông tin trong các báo cáo của công ty, thông tin thị trường và cả thông tin từ phỏng vấn hay thảo luận với ban quản trị công ty. Họ sử dụng những thông tin đó để đánh giá tình trạng tài chính, hoạt động kinh doanh, chính sách và các chiến lược quản trị rủi ro của toàn công ty, từ đó đưa ra hạng mức tín nhiệm cho công công ty. Mô hình toán học xếp hạng tín dụng (model driven ratings): Một số tổ chức xếp hạng khác thì hầu như chỉ tập trung vào các dữ liệu định lượng mà họ kết hợp chặt chẽ chúng trong một mô hình toán học.
Thông qua mô hình, các tổ chức xếp hạng có thể đánh giá chất lượng tài sản, khả năng sinh lợi, khả năng trả nợ dựa trên chủ yếu là các BCTC được công bố kèm theo những điều chỉnh. Nguồn thông tin Thông tin tài chính của DN: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ. Thông tin phi tài chính của DN: Tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng, thông tin pháp lý (địa chỉ, số điện thoại, fax, email, web, số đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập DN, ngày cấp, nơi cấp, loại hình DN, ngành nghề kinh doanh, 7 thông tin tranh chấp tại tòa án.), thông tin về trụ sở làm việc (đi thuê hay sở hữu, diện tích, địa thế.), thông tin về ban lãnh đạo (họ tên, tuổi, năm kinh nghiệm, trình độ.), thông tin trình độ công nghệ, thông tin sản phẩm, thông tin chi nhánh và công ty con (nếu có), thông tin sở hữu DN, thông tin lao động (số lượng, trình độ. Hệ thống chỉ tiêu dùng để xếp hạng tín dụng DN Bao gồm chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính, cụ thể: Chỉ tiêu tài chính Các tỷ số về khả năng thanh toán * Khả năng thanh toán hiện hành Tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện hành = Nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn thông thường bao gồm tiền các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng (tương đương tiền) các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho), còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn tại các NHTM, các TCTD khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác… Cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều có thời gian nhất định tới một năm.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của DN, nó cho biết mức độ các khoản nợ được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó. * Tỷ số khả năng thanh toán nhanh Là tỷ số giữa tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tài sản ngắn hạn và dễ bị lỗ nhất nếu được bán.
Do vậy tỷ số khả năng thanh toán cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho) và được xác định bằng cách lấy tài sản ngắn hạn trừ phần dự trữ (tồn kho) chia cho nợ ngắn hạn.