CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về doanh nghiệp 1. Quan điểm về doanh nghiệp Về phương diện lý thuyết có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp: Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là tổ chức có chức năng sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ và tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá bán và giá vốn sản phẩm (M. Theo quan điểm pháp luật: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng, có con dấu, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư của doanh nghiệp và chịu sự quản lý của Nhà nước bằng các văn bản pháp luật được thực thi.
Theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp là tập hợp các bộ phận, phòng ban có sự tác động qua lại lẫn nhau để cùng hướng tới một mục tiêu chung. Các bộ phận chủ chốt gồm: Nhân sự, tổ chức, sản xuất, vận hành, bán hàng. Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là tập thể những người cùng sản xuất, mua bán của cải vật chất trong xã hội. Doanh nghiệp được hình thành, phát triển và gặp rủi ro, thành công, thất bại trong quá trình phát triển của nó (D.
Tại Việt Nam, theo Khoản 10, Điều 4, Luật doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp Doanh nghiệp bao gồm các loại hình sau: Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Chức năng của doanh nghiệp Mục đích cơ bản của doanh nghiệp là tồn tại và phát triển, trong đó có 3 mục chính như sau: Mục đích kinh tế: Hoạt động để tạo ra lợi nhuận. Mục đích xã hội: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, cung cấp của cải vật chất, hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Mục đích cá thể: Thỏa mãn các nhu cầu cụ thể, đang dạng của những cá nhân tham gia vào doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận thì yếu tố cần thiết nhất là vốn. Có nhiều kênh để doanh nghiệp huy động vốn, tuy nhiên tại Việt Nam thì kênh huy động vốn đơn giản, cơ bản nhất và phổ biến nhất là thông qua tín dụng ngân hàng. Thực trạng về doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Số lượng doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp: Bảng 1.1: Số lượng doanh nghiệp tại TP.
HCM phân theo loại hình kinh tế giai đoạn 2019-2021 Loại hình doanh Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 nghiệp Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng lượng lượng Công ty 100% vốn Nhà 127 0,1% 118 0,1% 115 0,1% nước Công ty có vốn Nhà 154 0,1% 152 0,1% 155 0,1% nước chiếm trên 50% Doanh nghiệp tư nhân 6.578 2,1% Công ty hợp danh 134 0,1% 254 0,1% 143 0,1% Công ty TNHH 178.034 81,4% CTCP có vốn Nhà nước 329 0,2% 451 0,2% 255 0,1% CTCP không có vốn 28.262 12,8% Nhà nước Công ty 100% vốn 4.999 2,8% nước ngoài Công ty liên doanh 1.726 100% Nguồn số liệu: Cục thống kê TP. HCM (2022) 6 Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế: Bảng 1.2: Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tại TP. HCM phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2019-2021 Loại hình doanh nghiệp Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 621 665 593 Khai khoáng 284 256 99 Công nghiệp chế biến, chế tạo 34.003 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước 179 386 723 nóng, hơi nước và điều hoà không khí Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý 726 684 766 rác thải, nước thải Xây dựng 24.846 Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, 84.871 xe máy và xe có động cơ khác Vận tải, kho bãi 11.818 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 7.910 Thông tin và truyền thông 6.815 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo 1.450 hiểm Hoạt động kinh doanh bất động sản 9.425 Hoạt động chuyên môn, khoa học và 20.916 công nghệ Hoạt động hành chính và dịch vụ 8.677 hỗ trợ Giáo dục và đào tạo 3.496 Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 1.117 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 1.186 Hoạt động dịch vụ khác 2.726 Nguồn số liệu: Cục thống kê TP. HCM (2022) 7 Theo thống kê của Cục thống kê TP.
HCM năm 2022, cuối năm 2021 số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố có xu hướng giảm ở hầu hết các loại hình kinh tế, chỉ ngoại trừ doanh nghiệp FDI có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên quy mô số lượng doanh nghiệp của TP. HCM vẫn thuộc tốp đầu cả nước cho thấy độ lớn của thị trường mà các NHTM có thể khai thác. HCM hiện là đầu tàu cả nước về thu ngân sách, đầu tàu về sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hóa.
Cũng theo thống kê của Cục thống kê TP. HCM năm 2022, công nghiệp chế biến chế tạo và thương mại là 2 ngành có số lượng doanh nghiệp tham gia đông nhất, phù hợp với đặc thù công nghiệp hóa của thành phố. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế được hình thành, tồn tại và phát triển song song với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Tín dụng có nguồn gốc xuất phát từ tiếng Latinh: Credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm. Theo cách hiểu dân gian Việt Nam thì tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn. Một cách tổng thể, tín dụng là hình thức vay mượn giữa bên vay và bên cho vay. Trong đó, người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa, vật chất cho người đi vay.
Sau thời hạn quy định, người đi vay thực hiện theo cam kết hoàn trả đủ khoản tiền đã vay đúng hạn hoặc kèm theo tiền lãi. Theo Khoản 4, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tín dụng diễn ra phong phú và đa dạng, tồn tại 3 hình thức tín dụng là: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng Nhà nước. Tín dụng thương mại là hình thức mua bán chịu hàng hóa giữa người mua và người bán.
Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất – kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Cơ sở xác định quan hệ 8 bán chịu các giấy nợ, xác định quyền của người bán và nghĩa vụ nợ của người mua khi đến hạn. Tín dụng Nhà nước là tín dụng do Nhà nước thực hiện với tư cách là người đi vay. Mục đích thực hiện tín dụng Nhà nước của Nhà nước là huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước hoặc mở rộng quy mô đầu tư của Nhà nước.
Công cụ Nhà nước dùng để vay nợ là tín phiếu hoặc trái phiếu có quy định thời hạn trả nợ và lãi suất hằng năm. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với các chủ thể kinh tế khác (cá nhân, pháp nhân, hộ kinh doanh, định chế tài chính,…). Trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế thông qua nhiều hình thức huy động vốn khác nhau, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động đó để cho vay cá nhân, pháp nhân có nhu cầu sử dụng vốn cho nhiều mục đích khác nhau thông qua các sản phẩm cho vay khác nhau.
Tín dụng ngân hàng chủ yếu thực hiện thông qua 2 hình thức tiền tệ là tiền mặt và bút tệ. Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của doanh nghiệp đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của NHTM nói riêng, các ngân hàng luôn coi KHDN là đối tượng khách hàng trọng yếu, mang tính chiến lược. Các ngân hàng từ lớn đến nhỏ đều thúc đẩy các biện pháp tiếp cận KHDN để tăng trưởng tín dụng và chào bán các sản phẩm dịch vụ. Tín dụng doanh nghiệp là hình thức ngân hàng cấp tín dụng, thông qua các nghiệp vụ như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ khác đối với KHDN để thỏa mãn nhu cầu tín dụng cần thiết đối với nhóm khách hàng này, đồng thời tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Trong các hình thức tín dụng thì cho vay là sản phẩm tín dụng cơ bản nhất. Đối với KHDN, khi ngân hàng cho vay được thì sẽ bán chéo thêm được nhiều sản phẩm dịch vụ khác giúp ngân hàng kiểm soát được dòng tiền, khai thác thêm nhiều lợi ích và hạn chế rủi ro. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có một số đặc điểm nổi bật so với các hình thức tín dụng khác, cụ thể như sau: Tín dụng ngân hàng cho vay bằng tiền, thông qua công cụ tiền mặt hoặc bút tệ, phổ biến, linh hoạt và đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng trong nền kinh tế; Vốn cho vay được huy động từ nhiều thành phần trong nền kinh tế; Có phạm vi lớn, có thể cho nhiều đối tượng vay. Bản chất của tín dụng ngân hàng Trong suốt quá trình cho vay, vốn vay vận động theo công thức sau: T’ = T + t, trong đó: T’: Tổng tiền ngân hàng thu về đối với mỗi khoản vay T: Số tiền gốc cho vay ban đầu t: Tiền lãi cho vay (lợi tức) Sự vận động của vốn vay trải qua quá trình gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng.
Vốn vay được chuyển giao từ ngân hàng sang cho chủ thể đi vay thông qua hoạt động giải ngân. Việc chuyển giao vốn vay có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp từ ngân hàng sang cho bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thông qua hoạt động giải ngân. Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng.