MỞ ĐẦU CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3: SỐ LIỆU SỬ DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài 2. Các nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Tiến (2013, 274-296) cho rằng có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng, có thể phân loại thành các mô hình định tính (phương pháp chất lượng, phương pháp chủ quan, phương pháp chuyên gia hay phương pháp truyền thống) và các mô hình định lượng. Một ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng vì các mô hình này không loại trừ lẫn nhau.
*Đối với mô hình phân tích định tính, cán bộ tín dụng cần nghiên cứu ba vấn đề sau: - Mức độ tín nhiệm của người vay: nếu người xin vay có các tiêu chí 6C được đánh giá tốt, bao gồm tư cách (Character), năng lực (Capacity), thu nhập (Cash), bảo đảm (Collateral), điều kiện (Conditions) và kiểm soát (Control), thì việc CTD là khả thi. + Tư cách người vay: tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và có thiện chí trả nợ. + Năng lực pháp lý của người vay: tổ chức được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. + Thu nhập của người vay: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, bán thanh lý tài sản, phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn.
+ Bảo đảm tiền vay: người vay phải sở hữu hợp pháp một tài sản có chất lượng để hỗ trợ cho khoản vay. + Các điều kiện: xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến các khoản tín dụng thông qua các mẫu báo có liên quan, các bài tạp chí và các bài báo nghiên cứu. 4 + Khả năng kiểm soát khoản vay: ngân hàng phải kiểm soát việc khách hàng sử dụng tiền vay dựa trên những thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng tiêu cực tới người vay, yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng hay không. - Tính đúng đắn và hợp lệ của hợp đồng tín dụng: một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo đảm: + Tuân thủ pháp luật.
+ Phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng. + Phù hợp với nhu cầu vay của khách hàng (số lượng, thời hạn, kỳ trả nợ, lãi suất…). + Kế hoạch trả nợ hợp lý. + Có phương án xử lý vi phạm rõ ràng, khả thi.
- Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản bảo đảm: trên thực tế các loại tài sản bảo đảm bao gồm tài khoản phải thu, bao thanh toán, hàng tồn kho, thế chấp tài sản cố định, cầm cố các động sản lâu bền, tài sản của bên thứ ba… *Đối với các mô hình định lượng trong phân tích tín dụng, các chỉ tiêu truyền thống được sử dụng bao gồm 5 nhóm lớn như sau: - Nhóm 1: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn hay tính thanh khoản của doanh nghiệp như hệ số khả năng thanh toán hiện thời, hệ số khả năng thanh toán nhanh, vốn lưu động ròng. - Nhóm 2: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ dài hạn hay đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp như hệ số nợ, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, hệ số nhân vốn chủ sở hữu, hệ số nợ dài hạn, lợi nhuận trước thuế và lãi vay, hệ số EBIT. - Nhóm 3: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp như vòng quay tổng tài sản, vòng quay khoản phải thu, kỳ thu nợ bình quân, vòng luân chuyển hàng hóa, kỳ tồn kho trung bình. - Nhóm 4: Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh lời như hệ số lãi ròng, hệ số lãi gộp, tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có.
5 - Nhóm 5: Các chỉ tiêu phản ánh giá trị thị trường của doanh nghiệp như chỉ số PER và một số chỉ số khác. Trong khoảng thời gian gần đây, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa rủi ro tín dụng người vay, sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng hóa xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau, thông qua xác định các chỉ tiêu về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể. Mô hình điểm số Z là một trong những mô hình định lượng hiện đại cơ bản thường được sử dụng nhất. Mô hình này do Altman xây dựng áp dụng cho các công ty sản xuất của Mỹ: 𝑍 = 1.0𝑋5 Trong đó: X1 là tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản.
X2 là tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản. X3 là tỷ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản. X4 là tỷ số thị giá cổ phiếu trên giá trị ghi sổ của nợ dài hạn. X5 là tỷ số doanh thu trên tổng tài sản.
- Giá trị của Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người vay càng thấp. Bất cứ công ty nào có Z nhỏ hơn 1.81 được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không cho vay nếu người vay không cải thiện được chỉ số Z lên hơn mức 1. Tuy nhiên mô hình điểm số Z cũng bộc lộ những hạn chế như: + Chỉ phân loại khách hàng thành vỡ nợ và không vỡ nợ nhưng trên thực tế vỡ nợ lại được phân thành nhiều loại khác như không trả, trả chậm, không hoàn trợ nợ gốc và lãi… + Các biến số là không bất biến, đặc biệt khi điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyên thay đổi, và việc các biến giả sử hoàn toàn độc lập nhau là chưa chính xác. 6 + Chưa xét đến các nhân tố khó lượng hóa nhưng có ảnh hưởng lớn đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng như vị thế kinh doanh hay uy tín tín dụng, chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh doanh.
Nguyễn Phúc Cảnh & Vũ Xuân Hùng (2014, 48) chỉ ra rằng các nghiên cứu về sau của Altman đã phát triển và điều chỉnh mô hình Z thành các mô hình Z’ và Z’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp: - Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa ngành sản xuất, mô hình điểm số Z được tính theo công thức 𝑍 ′ = 0.9: doanh nghiệp nằm trong an toàn, chưa có nguy cơ phát sản.9: doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.23: doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. - Đối với các doanh nghiệp còn lại, vì sự khác nhau tương đối lớn của biến số X5 giữa các ngành nên biến số X5 đã được loại ra, và mô hình điểm số Z được điều chỉnh có công thức tính như sau: 𝑍 ′′ = 6.6: doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.6: doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản.1: doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp hay phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng hoặc hoạt động cho vay là một trong những đề tài tương đối phổ biến trong khóa luận tốt nghiệp cũng như luận văn thạc sĩ của không chỉ riêng chuyên ngành tài chính – ngân hàng mà còn là cả chuyên ngành kế toán cũng như quản trị kinh doanh. Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã tham khảo 17 đề tài khóa luận tốt nghiệp cùng chủ đề tại Học viện Ngân hàng được thực hiện trong giai đoạn 2016-2018.
Nhìn chung, nội dung của tất 7 cả các nghiên cứu trên đều tương đối đầy đủ, các phần mục được bố trí hợp lý và đặc biệt một số nghiên cứu đã thể hiện được sự nổi bật bằng việc tiếp cận vấn đề dưới những góc độ mới hơn so với những bài làm cùng chủ đề. Chẳng hạn như Nguyễn Hoàng Phương (2017) trong nghiên cứu của mình đã bổ sung thêm nội dung phân tích tài chinh khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của không chỉ riêng ngân hàng TMCP Tiên Phong mà còn là các ngân hàng khác như ngân hàng TMCP Kĩ Thương Việt Nam, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. Ngoài ra, Lê Thị Huyền Trang (2018) đã đề xuất giải pháp sử dụng Fintech trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và Nguyễn Thị Phương Anh (2018), vận dụng kiến thúc đã học, đưa ra giải pháp sử dụng phương pháp chỉ số trong phân tích doanh thu của công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu của Hà Thị Hồng Hạnh (2018) đã đưa ra lý thuyết điểm số Z trong giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, các khóa luận tốt nghiệp vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Đầu tiên, nội dung nghiên cứu là công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng thương mại cụ thể, chưa được thể hiện rõ. Phần lớn các nghiên cứu đều đưa ra các nội dung về công tác phân tích tài chính khách hàng ngân hàng thương mại nói chung, chưa đi vào những quy định phân tích cụ thể. Tiếp đến, các giải pháp đưa ra trong nhiều nghiên cứu còn mang nặng tính lý thuyết, chưa đưa ra được thực tế áp dụng sẽ dẫn đến kết quả như thế nào, dẫn đến một số giải pháp được đưa ra mà không đạt được kết luận.
Cuối cùng, không có nhiều nghiên cứu khóa luận có được số liệu đáng tin cậy trong công tác phân tích báo cáo tài chính của khách hàng doanh nghiệp. Em mong rằng khóa luận của mình có thể khỏa lấp những chỗ trống trong các đề tài nghiên cứu cùng chủ đề trước đó và đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.