CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng bán lẻ Theo khoản 14, điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (2010): “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Khái niệm cấp tín dụng ở đây bao gồm tín dụng bán lẻ và tín dụng bán buôn.
Với tín dụng bán lẻ, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính xác nào về nó. Theo Lê Khắc Trí (2008) “tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Tín dụng bán lẻ của ngân hàng được hiểu là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc dùng sự tin tưởng và tín nhiệm đó để chuyển nhượng quyền sử dụng vốn có hoàn trả giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa,…) trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định và kèm theo rủi ro. Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Hồ Diệu, Bùi Diệu Anh và Lê Thị Hiệp Thương (2009) về nghiệp vụ tín dụng ngân hàng có đưa ra một số đặc điểm của tín dụng bán lẻ như sau: 1.
Quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay nhiều Tín dụng bán lẻ nói chung phục vụ cho đối tượng khách hàng là cá nhân , hộ gia đình là chủ yếu và doanh nghiệp siêu nhỏ và vừa vay vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh, nhu cầu đời sống của mình, … Tín dụng bán lẻ có thể coi là sản phẩm để phục vụ một số lượng lớn nhiều khách hàng nhỏ lẻ với số tiền cho vay ít và các sản phẩm vô cùng đa dạng. 8 Đối với thông tin tài chính cũng như các thông tin về báo cáo của khách hàng bán lẻ thường có chất lượng thấp hơn và khó xác định và hầu hết các loại báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không qua kiểm toán. Thời gian vay vốn đối với khách hàng bán lẻ có xu hướng vay dài hơn so với bán buôn do đặc thù đa số vay mua nhà, đất ở, ô tô, … và các khoản vay này thường có nhu cầu lớn hơn so với nguồn thu của chính khách hàng, do đó việc kéo dài thời gian vay vốn cũng góp phần làm cho khách hàng dễ dàng và thoải mái trong việc hoàn trả nợ vay. Đối với nhu cầu cấp tín dụng về bán lẻ thường chịu nhiều tác động của chu kỳ kinh tế; khi kinh tế tăng trưởng thì thu nhập tăng, các nhu cầu về vốn, đầu tư tăng cao; ngược lại khi kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao thì nhu cầu vay cũng như chi tiêu lại có xu hướng giảm.
Các rủi ro thông tin bất cân xứng và rủi ro tác nghiệp Rủi ro thông tin bất cân xứng Để ra quyết định cho vay một khách hàng thì thông tin về pháp lý, nhân thân khách hàng được xem là một trong những yếu tố tiên quyết bên cạnh tính hợp lý, hợp pháp về nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm cho khoản vay. Đối tượng khách hàng bán lẻ thường phức tạp về nhân thân, nguồn thu nhập, mục đích vay vốn nên việc cán bộ quản lý khách hàng phải thu thập thông tin khá nhiều và thường dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng và khó mà đánh giá một cách chính xác được. Ngoài ra nguồn thu nhập để trả nợ vay ngân hàng thường chỉ đánh giá trong qua khứ và hiện tại nên trong tương lai nếu khách hàng vay gặp các rủi ro bất khả kháng như sức khỏe, bị sa thải hoặc các biến cố không thể lường trước cũng phần nào ảnh hưởng đến nguồn thu nhập trả nợ và không thể hoàn trả được nợ vay cho ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp Do đặc thù của các khoản tín dụng bán lẻ là quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay lớn, do đó để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cũng như nâng cao năng suất làm việc thì đòi hỏi cán bộ quản lý khách hàng phải làm việc một cách cẩn thận và nhanh chóng.
Vì vậy, các quá trình thu thập hồ sơ, thẩm định tín dụng thường bị bỏ qua nhiều khâu và không thẩm định kỹ lưỡng, thậm chí lợi dụng công tác quản lý lỏng 9 lẻo cũng như quy định chưa chặt chẽ để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản khách hàng hoặc gây ra các rủi ro tổn thất cho chính ngân hàng nơi mình làm việc. Tín dụng bán lẻ đòi hỏi chi phí cao Chi phí cho tín dụng bán lẻ thường lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, số lượng thường nhiểu nên chi phí cho công tác quản lý, mở rộng mạng lưới, tiếp thị hay phát triển sản phẩm, chăm sóc khách hàng cũng như các chi phí liên quan như văn phòng phẩm, công tác phí và các chi phí hỗ trợ khác thường rất cao; Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng nguồn vốn trung dài hạn cao dẫn đến các chi phí về vốn cũng thường rất cao. Lợi nhuận mang lại cao Do hầu hết dư nợ của tín dụng bán lẻ là dư nợ vay dài hạn nên lãi suất cho vay của các khoản vay này đều cao hơn mặt bằng chung so với các sản phẩm cho vay khác của ngân hàng. Việc này xuất phát từ đặc điểm tín dụng bán lẻ có thời gian vay dài, chi phí vốn cao do đó rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu cao hơn.
Mặt khác, lợi nhuận mang lại từ mỗi khoản vay lại nhiều, số lượng lớn nên phần nào cũng đóng góp đáng kể trong tổng số lợi nhuận mà ngân hàng thu được. Ngoài ra do số lượng khách hàng lớn nên việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ gia tăng của ngân hàng nhiều nên góp phần tăng thu từ dịch vụ và các sản phẩm bán chéo cho ngân hàng. Phân loại tín dụng bán lẻ Cùng với đặc điểm của tín dụng bán lẻ thì nhóm tác giả Hồ Diệu, Bùi Diệu Anh và Lê Thị Hiệp Thương (2009) còn đưa ra một số cách phân loại về tín dụng bán lẻ như sau: 1. Theo thời gian Căn cứ theo tiêu chí thời gian, TDBL chia thành 3 loại: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Là khoản vay đến 12 tháng tính từ ngày giải ngân đầu tiên, góp phần vào việc bù đắp nguồn vốn thiếu hụt tạm thời của khách hàng. Cho vay trung hạn: Là khoản cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng năm đến 60 tháng. Đối với bán lẻ, cho vay trung hạn phục vụ cho các khoản vay có thời gian vay dài hơn như mua ô tô, vay xây dựng, sửa chữa nhà ở, … 10 Cho vay dài hạn: Là khoản vay có thời gian vay vốn từ 60 tháng trở lên. Cho vay dài hạn số tiền vay thường lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro cao hơn.
Các sản phẩm cho vay dài khách hàng thường là mua nhà, đất, … 1. Theo mục đích vay Theo tiêu chí này có thể phân TDBL thành các loại như sau: Cho vay tiêu dùng bảo đảm bằng BĐS Sản phẩm này cho vay với khách hàng đang có nhu cầu vay vốn với mục đích tiêu dùng và có tài sản bảo đảm là bất động sản. Đối tượng vay vốn là tất cả các khách hàng có nhu cầu vay vốn đúng mục đích vay, có nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên và đáp ứng đầy đủ tất cả điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng. Phương thức cho vay: Theo món hoặc thấu chi Lợi ích của khách hàng: Phục vụ đa dạng hơn về các nhu cầu về vốn cho khách hàng Thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng vay thỏa thuận phù hợp với thời gian theo quy định của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng không có TSBĐ: Đây là khoản vay mà khách hàng có nhu cầu vay vốn với mục đích tiêu dùng, phục vụ đời sống, sinh hoạt cá nhân nhưng không phải thế chấp bất cứ một loại tài sản nào của khách hàng. Thường các khoản vay này có rủi ro cao hơn nên đối tượng vay vốn thường là người có uy tín, lịch sử tín dụng tốt. Do đó, đối tượng khách hàng này cán bộ quản lý khách hàng cần thẩm định kỹ lưỡng và đề xuất hạn mức cho vay phù hợp. Lãi suất cho vay đối với các khoản vay này thường cao hơn lãi suất cho vay với khoản vay thông thường có tài sản bảo đảm, nguyên nhân do rủi ro mà khách hàng mang lại cao hơn và chi phí quản lý cũng nhiều hơn.
Cho vay nhu cầu nhà ở: Đây là sản phẩm mà ngân hàng thực hiện cho vay vốn đối với khách hàng cá nhân vay các nhu cầu như mua, nhận chuyển nhượng về nhà ở để phục vụ mục đích nhu cầu đời sống. Lợi ích của khách hàng: 11 + Thời hạn cho vay dài lên đến 20 năm. + Mức cho vay tối đa lên tới 100% giá trị tài sản + Được nhận chính tài sản mục đích vay vốn làm tài sản bảo đảm cho khoản vay. Cho vay mua ô tô Vay mua ô tô là sản phẩm đáp ứng nhu cầu mua xe ô tô của khách hàng cá nhân để phục vụ nhu cầu đời sống và đi lại hàng ngày.
Thời gian vay thường linh hoạt lên đến 84 tháng, giá trị khoản vay có thể đạt đến 100% giá trị xe tùy theo xuất xứ, loại xe và tài sản bảo đảm bảo đảm cho giá trị khoản vay. Lợi ích của khách hàng: + Giá trị khoản vay lớn và thời gian vay lên đến 84 tháng + Khách hàng có thể thế chấp chính chiếc xe làm tài sản bảo đảm. + Thủ tục vay vốn đơn giản và nhanh chóng.