CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về quỹ đầu tư phát triển địa phương 1. Khái quát về Quỹ đầu tư phát triển địa phương 1. Khái niệm Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một loại hình tổ chức tài chính trung gian “đặc biệt” của địa phương nhằm thu hút các nguồn lực tài chính để thực hiện mục tiêu, chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương.
Quỹ Đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, đảm bảo an toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí, tự chịu trách nhiệm về những rủi ro trong quá trình hoạt động và chịu sự chi phối nhất định của chính quyền địa phương. [12] Cùng với các loại hình tổ chức tài chính khác, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được Chính phủ và chính quyền địa phương xác định là một công cụ quan trọng và cần thiết để cân đối và huy động các nguồn vốn bổ sung vào nguồn tài chính còn hạn hẹp của ngân sách địa phương, nhằm tập trung, thu hút các nguồn lực đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương cũng như của cả nước. Sự khác biệt giữa Quỹ Đầu tư phát triển địa phương với các ngân hàng thương mại - Quỹ Đầu tư phát triển địa phương không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu như các ngân hàng thương mại. - Hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương chịu sự chỉ đạo trực tiếp của BND cấp tỉnh và có mối liên hệ chặt chẽ với các Sở, ngành nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, National Academy of Public Administration 9 trong khi hoạt động của các ngân hàng thương mại dàn trải trên nhiều lĩnh vực khác nhau theo khuôn khổ pháp luật quy định.
- Các ngân hàng thương mại không bị giới hạn đối tượng, lĩnh vực hoạt động trong khi đối tượng cho vay, đầu tư của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương chỉ ở một số ngành, lĩnh vực nhất định (các dự án kết cấu hạ tầng thuộc các chương trình, mục tiêu theo chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các lĩnh vực trọng điểm của từng địa phương). - Dịch vụ của các ngân hàng thương mại đa dạng hơn của Quỹ Đầu tư (như việc huy động tiền gửi của dân, lãi suất tín dụng linh hoạt…). - Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ngân hàng thương mại cao hơn Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. Các hình thức hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Xuất phát từ đặc điểm của quỹ đầu tư phát triển, các hình thức hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương bao gồm: huy động vốn, đầu tư trực tiếp, cho vay đầu tư và một số hoạt động khác.
a) Huy động vốn: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương thực hiện huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho các đối tượng dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. [13] Các hình thức huy động nguồn vốn, gồm: phát hành trái phiếu; vay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua hợp đồng vay vốn; các hình thức huy động khác theo quy định của pháp luật như: nguồn vốn góp ban đầu của các tổ chức, nguồn tài trợ từ thiện… Giới hạn huy động vốn tối đa bằng 6 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. b) Đầu tư trực tiếp: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa National Academy of Public Administration 10 phương sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để đầu tư trực tiếp vào các dự án, góp vốn thành lập các tổ chức kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. [13] Nguồn vốn sử dụng vào đầu tư trực tiếp bao gồm: nguồn vốn điều lệ của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (do ngân sách địa phương cấp) và nguồn vốn huy động của Quỹ.
Điều kiện tiên quyết nhất để thực hiện đầu tư trực tiếp là dự án phải có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và phù hợp với chương trình, mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Việc tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp phải tuân theo chu trình, bao gồm các giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư (nghiên cứu cơ hội đầu tư; nghiên cứu tiền khả thi, khả thi; thẩm định để ra quyết định đầu tư) -> Thực hiện đầu tư (xin giao đất hoặc thuê đất, xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên), thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, đàm phán ký kết các hợp đồng, thiết kế và lập dự toán, thi công, lắp đặt, thử nghiệm…) -> Vận hành kết quả đầu tư. Các hình thức đầu tư trực tiếp mà Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có thể lựa chọn gồm: hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B T); hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BT ); hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT); tìm kiếm dự án, thực hiện các công việc chuẩn bị đầu tư sau đó thực hiện đầu tư hoặc chuyển nhượng lại dự án cho chủ đầu tư khác thực hiện đầu tư. c) Cho vay đầu tư: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện đầu tư dự án.
Đối tượng cho vay đầu tư là các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, kỹ thuật nằm trong các chương trình, mục tiêu theo chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Hoạt động cho vay đầu tư được thực hiện theo trình tự các bước gồm: National Academy of Public Administration 11 tiếp nhận và thẩm định (bao gồm thẩm định năng lực chủ đầu tư và thẩm định dự án) -> Quyết định cho vay -> Giải ngân và giám sát tín dụng -> Thu hồi nợ/xử lý rủi ro. Nguồn vốn để cho vay đầu tư bao gồm: nguồn vốn điều lệ của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (do ngân sách địa phương cấp) và nguồn vốn huy động của Quỹ. Lãi suất cho vay đầu tư được xác định trên cơ sở mức độ ưu tiên của từng địa phương đối với ngành nghề/ lĩnh vực mà dự án đầu tư, nhưng không thấp hơn lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Lãi suất cho vay có thể được cố định hoặc thả nổi tuỳ theo từng dự án. Thời hạn cho vay đầu tư thường dài và số vốn cho vay lớn. Việc trả nợ của dự án thực hiện trong nhiều kỳ và kéo dài trong nhiều năm. d) Các hình thức hoạt động khác * Bảo lãnh tín dụng: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương cam kết với các tổ chức tín dụng cho vay vốn về việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn của bên đi vay.
Trong trường hợp bên đi vay không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ khi đến hạn, thì các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương sẽ trả nợ thay cho bên đi vay. Chủ đầu tư phải trả phí bảo lãnh cho Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. [12] Thời hạn bảo lãnh, số vốn bảo lãnh và điều kiện bảo lãnh được xác định tương tự như đối với cho vay đầu tư trên cơ sở thoả thuận của các bên. Tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của dự án, bên đi vay (chủ đầu tư) có thể phải có tài sản đảm bảo cho bảo lãnh.
Trường hợp Quỹ Đầu tư phát triển địa phương phải trả nợ thay cho bên đi vay thì sau khi trả nợ thay, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được quyền tiếp nhận khoản tín dụng đó và bên đi vay phải nhận nợ với Quỹ. Khi đó Quỹ được quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi vốn theo thoả thuận ban đầu National Academy of Public Administration 12 đã ký kết và quy định của pháp luật. * Uỷ thác và nhận uỷ thác: là hoạt động trong đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn đầu tư, cho vay đầu tư, thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư từ các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; phát hành trái phiếu để huy động vốn cho ngân sách địa phương; uỷ thác cho các tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng phát triển thực hiện hoạt động cho vay hoặc thu hồi nợ vay đối với dự án đầu tư. [12] Hoạt động này được thực hiện dựa trên hợp đồng uỷ thác hoặc kế hoạch giao vốn uỷ thác của các chính quyền địa phương.
Các rủi ro trong hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được thành lập để thực hiện chức năng quan trọng là: cung cấp vốn dài hạn, thu hút các nguồn lực tài chính, tạo động lực cho các chủ thể khởi xướng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân và địa phương nhằm tăng cường hiệu quả đầu tư và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, khi thực hiện mô hình trung gian tài chính này, đòi hỏi Chính phủ, chính quyền các địa phương phải đảm bảo giải quyết thấu đáo, hài hoà mối quan hệ giữa tình hình cụ thể của đất nước cũng như của địa phương và các rủi ro gắn liền với mô hình trung gian tài chính này. Trong quá trình hoạt động, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương thường gặp những rủi ro sau: a) Chịu sự chi phối, áp đặt nhất định về chính sách: Sự áp đặt về chính sách thể hiện ở sự can thiệp của chính quyền cấp tỉnh, thành phố hay của Chính phủ, với tư cách là người có quyền ra quyết định chủ chốt đối với các hoạt động, quyết định phân bổ nguồn lực của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương. Điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiềm lực hiện tại cũng như trong tương lai của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và thường National Academy of Public Administration 13 là nhân tố làm phát sinh những rủi ro, hạn chế hiệu quả hoạt động của các Quỹ Đầu tư.