CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE CONG TAC PHAN TICH TAIL CHÍNH Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DAC DIEM HOAT DONG KINH DOANH CO ANH HUONG DEN CONG TAC PHAN TÍCH TÀI CHÍNH Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại và phân tích tài chính ở NHTM a. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tổn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Ngân hàng thương mại là loại hình tô chức tai chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất — đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán — và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) do Quốc hội khóa 12 thông qua vào ngày 16/6/2010, định nghĩa: "NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tat cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận". Luật này cũng định nghĩa: "Hoạt động NH là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số. các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” b.
Phân tích tài chính ngân hàng thương mại Phân tích tài chính NHTM là việc sử dụng một tập hợp các phương pháp, công cụ cho phép xử lý các thông tin về quản lý và thông tin kế toán nhằm đánh giá tình hình tài chính của một NHTM, đánh giá mức độ rủi ro, chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM đó. Muốn tiến hành hoạt động phân tích, nhà quản trị cần có các số liệu kế toán đã được kiểm toán. Thông tin kế toán được phản ánh trên các báo cáo tài chính. Các số liệu kế toán chính là nguyên liệu cần thiết, là cơ sở quan trọng đặt nền móng ban đầu cho việc phân tích.
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ trên số liệu của các báo cáo tài chính thì không đủ để có một cái nhìn chỉ tiết về tình hình hoạt động kinh doanh của một NHTM, do đó, các thông tin cụ thể khác về hoạt động kinh doanh của NH, cho dù chưa được kiểm toán, vẫn có thể là nguồn số liệu hữu ích đối với hoạt động phân tích tài chính NHTM. Phân tích tài chính không đơn giản chỉ là một quá trình tính toán các chỉ tiêu phân tích mà là một quá trình đi tìm ý nghĩa của từng con só, giúp những người sử dụng thông tin hiểu được tình hình tài chính của NH, từ đó có cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị, điều hành phù hợp. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM có ảnh hướng đến công tác phân tích tài chính ở NHTM NHTM có đặc điểm giống như các doanh nghiệp khác trong nên kinh tế, cũng sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác, NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh thể hiện qua các đặc điểm sau: 'Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của NHTM.
Và chính đặc điểm này sẽ bao trùm hơn và rộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định. Vì vậy trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình, NHTM không những phải bảo đảm khả năng thanh toán, chỉ trả như mọi loại hình doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chỉ trả tiền gửi của khách hàng.
Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tâm lý của người dân, cũng như của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng tài chính của các NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của ngân hàng trung ương.
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tắt cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động. kinh doanh ngân hàng có thê gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bắt kỳ rủi ro của loại hình doanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động các NHTM phải thường xuyên cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi ro của mình.
Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mà các doanh nghiệp trong các ngành khác không có. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiến liên tục trong mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Điều này sẽ gây khó khăn trong. việc tách riêng từng mặt hoạt động của ngân hàng để phân tích kết quả tài chính.
Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu ở các lĩnh vực: Hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư và hoạt động cung cấp các 10 sản phẩm dịch vụ khác của Ngân hàng. MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Mục tiêu phân tích tài chính ở NHTM Mục đích của phân tích tài chính NHTM là làm rõ xu hướng phát triển và thực trạng của các hoạt động kinh doanh, đặt trong mối quan hệ so sánh với các NH khác cùng quy mô, đẳng cấp hoặc với các chỉ tiêu bình quân ngành, nhằm giúp các nhà quản lý nắm bắt được tình hình kinh doanh của NH với đầy đủ các mặt mạnh, yếu cũng như những thuận lợi, khó khăn trong từng. giai đoạn, để từ đó có cơ sở ra các quyết định kinh doanh đúng đắn.
Phân tích tài chính được sử dụng bởi các đối tượng khác nhau nhằm các mục tiêu khác nhau: - Đối với những nhà quản trị NH: Mục tiêu phân tích tài chính ở NHTM là nhằm đánh giá tinh trạng tài chính, hiệu quả hoạt động và rủi ro của NH ở góc độ tổng thể và chỉ tiết. Kết quả phân tích giúp cho nhà quản trị đưa ra giải pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận; giảm thiểu rủi ro và các chỉ phí trong hoạt động kinh doanh; đảm bảo khả năng thanh toán và sự an toàn của NH. - Đối với nhà đầu tư (các cỗ đông): Các nhà đầu tư quan tâm đến việc đánh giá khả năng sinh lời, đánh giá cỗ phiếu NH trên thị trường cũng như triển vọng của NH đề đảm bảo tính hiệu quả của các quyết định đầu tư. - Đối với khách hàng: Khách hàng nhìn nhận phân tích tài chính của 'NHTM phục vụ cho việc lựa chọn ngân hàng của mình.
Khi ngân hàng hoạt đông có hiệu quả, tính thanh khoản cao và khả năng cung ứng các dịch vụ tốt, hiệu quả thì khách hàng tắt yếu sẽ chọn NHTM đó. Do vậy, mục tiêu của việc phân tích tài chính cũng rất quan trọng đối với khách hàng, không khách hàng nào muốn gửi tiền, hoặc sử dụng các dịch vụ của các ngân hàng có hiệu quả thấp, khả năng rủi ro cao. 11 với xã hội: Ngân hàng là một trong những chủ thẻ kinh tế tham gia vào các quan hệ kinh tế. Đặc biệt hơn, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền, do vậy khi ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ góp phần thúc đây phát triển kinh tế, xã hội.
Trên góc độ kinh tế vĩ mô, một ngân hàng phát triển tốt góp phần mang lại công ăn việc làm, đóng thuế cho chính phủ làm tăng ngân sách cho nhà nước. Phương pháp phân tích tài chính ở NHTM Phương pháp phân tích tài chính ngân hàng thương mại bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chỉ tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng thương mại a. Phương pháp so sánh So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phô biến trong phân tích. tài chính.
Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có của đối tượng nghiên cứu, từ đó giúp cho đối tượng quan tâm có căn cứ để ra quyết định lựa chọn. Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo các điều kiện có thể so. sánh được của các chỉ tiêu tài chính như thống nhất về không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính. và theo mục đích so sánh mà xác định gốc so sánh.
Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thê được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh bao gồm: $o sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước đê thấy rõ xu hướng thay đổi về tình hình tài chính của ngân hàng. Đánh giá sự tăng trưởng hay giảm sút trong hoạt động của ngân hàng. 12 So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch đề thấy mức độ phấn đấu của ngân hàng trong thực hiện các kế hoạch đã đề ra.
$o sánh giữa số liệu của ngân hàng với số liệu trung bình của ngành, của các ngân hàng khác đề đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng tốt hay. So sánh theo chiêu đọc đễ xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tông.