CHƯƠNG 1 L Ý L U Ậ N C H U N G V È H Ệ T H Ố N G X É P H Ạ N G T ÍN D Ụ N G N Ộ I B ộ V À P H Â N L O Ạ I N Ợ T H E O H Ệ T H Ó N G X É P H Ạ N G T ÍN D Ụ N G NỘ I B ộ TẠI NG ÂN HÀNG TH Ư Ơ NG M ẠI 1. T ổng qu an về hệ th ống xếp hạng tín dụ n g nội bộ 1. K h á i niệm Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ đã từng tuyên bố: chức năng kinh tể cơ bản của một ngân hàng là chấp nhận rủi ro. Theo ông, nếu các ngân hàng cố gắng giảm thiểu rủi ro xuống bằng 0, thì ít nhất về phương diện lý thuyết, họ đã tự triệt tiêu mục đích tồn tại của hệ thống ngân hàng.
Tuy nhien, châp nhận rủi ro không đông nghĩa với việc các ngân hàng hoàn toàn “phớt lờ” các tổn thất tiềm ẩn và thuần tuý chạy theo lợi nhuận. Trong ngân hàng hiện đại, rủi ro và lợi nhuận có mối quan hệ song hành gắn bó và phải được xem xét trong mối quan hệ tương tác với nhau. Ví dụ ở cấp độ toàn hàng, các quan điểm truyền thống thường cho rằng thước đo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng chỉ là ROA hoặc ROE cao. Mục tiêu của quản trị NHTM ngày nay, tuy vẫn là tối đa hoá các tỷ suất lợi nhuận nói trên, nhưng phải là các tỷ suất này sau khi đã được điều chỉnh rủi ro.
Nói cách khác với mức độ rủi ro mà ngân hàng đã chấp nhận, mức sinh lời từ việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng là tối ưu nhất, hoặc ngược lại, tại mức sinh lời mà họ đạt được, mức độ rủi ro là thấp nhất. Đối với hầu hết các ngân hàng, rủi ro tín dụng là nguồn rủi ro lớn nhất và rõ ràng nhât của rủi ro kinh doanh, kể cả khi so sánh với các nguồn rủi ro cơ bản khác là rủi ro tác nghiệp và rủi ro thị trường. 6 Cùng với sự phát triển của ngành tài chính - ngân hàng trong những thập kỷ vừa qua, các công cụ hỗ trợ quản trị rủi ro tín dụng ngày càng gia tăng về số lượng và tinh vi về chất lượng, đặc biệt là khi các hạ tầng và giải pháp về công nghệ đã giúp những công cụ này phát triển đến mức độ gần như “không biên giới”. Thế nhưng, dù trong giai đoạn nào, có một công cụ luôn đóng vai trò đắc lực cho công tác quản trị rủi ro tín dụng: đó là hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
Việc áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ vào phân loại nợ sẽ giúp cho các NHTM quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn do đánh giá một cách tương đối chính xác rủi ro tiềm ẩn, từ đó có phương án bảo toàn vốn bằng việc trích lập dự phòng rủi ro. Một cách khái quát, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ bao gồm tập hợp các phương pháp, quy trình, kiểm soát, thu thập dữ liệu và hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ việc đánh giả, chấm điểm khả năng không trả được nợ tiềm ấn của một khách hàng và căn cứ vào số điểm đã chấm để phân loại khách hàng đó vào hạng rủi ro phù hợp [9]. Từ định nghĩa trên có thể thấy, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được cấu thành bởi bốn cấu phần cơ bản, có mối quan hệ tương hỗ: (i) quy trình xếp hạng và quyết định kết quả xếp hạng; (ii) quy trình kiểm tra và kiểm soát; (iii) phần mềm chấm điểm tín dụng; (iv) cơ sở dữ liệu. Trong đó, cấu phần quy trình và quyết định kết quả xếp hạng là linh hồn của hệ thống, các cấu phần khác đóng vai trò hỗ trợ đầu vào và đầu ra để nâng cao hiệu quả hoạt động và ứng dụng của hệ thống.
Cấu trúc và đặc điểm chung của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ỉ. Cấu trúc của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Theo Moody’s Rating methodologies, Moody’s (2008), thì cấu trúc (hay định dạng) truyền thống, phổ biến nhất của hệ thống xếp hạng tín dụng là thẻ điểm (scorecard). Đây là một bảng được cấu thành bởi: (i) tập hợp các 7 nhân tố dự báo rủi ro; (ii) các khoảng giá trị chuẩn của từng nhân tố; (iii) các thang điểm nhân tố cho từng khoảng giá trị; (iv) trọng số, thể hiện tầm quan trọng của các nhân tố; (v) thang xếp hạng chuẩn dựa trên điểm tổng hợp của khách hàng. Ví dụ dưới đây thể hiện một thẻ điểm dạng giản đơn (các giá trị tương ứng của khách hàng được ghi chú trong ngoặc, ở góc dưới 0): B ản g 1.1: T hẻ điểm xếp hạng tín dụ ng dạn g giản đơn T hang T h an g xếp hạng K h oản g T rọn g Đ iểm N hân tố điểm Ấ nhân tố chuẩn giá trị SO nhân tố Đ iểm H ạng i|2 0 ệ 10 >7,5 AAA Quy mô (300) 40% 4 <200 5 > 7 - < 7,5 AA > 100 8 > 6,5 - < 7 BBB VCSH (150) 30% 2,4 <100 5 > 6 - < 6,5 BB >50 6 > 5,5 - < 6 ccc Lợi 0,9 <5,5 <50 3 30% cc nhuận (40) rri Ả -»• Ẵ T ôn g điêm ___ 2 A _____________________ ------------------------ *---------------------------- [Nguôn: Moody’s] Thẻ điểm có ưu điểm nổi bật là dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ được kiểm nghiệm và giám sát.
cấu trúc của thẻ điểm cho phép xem xét không giới hạn số lượng các nhân tố (cùng các khoảng giá trị của chúng) có ảnh hưởng độc lập đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Hơn nữa, vì thẻ điểm có ý nghĩa kinh tế trực quan và tính minh bạch cao, ngân hàng cũng dễ bảo vệ vai trò và ứng dụng của nó trước các bên thứ ba như các cơ quan giám sát ngân hàng vĩ mô, công ty kiểm toán độc lập. Một định dạng khác của hệ thống xếp hạng tín dụng là cây quyết định. Mô hình cây quyết định là tập họp các nguyên tắc “nếu.
Trong mô hình này, câu trả lời cho mỗi nhân tố sẽ quyết định nhân tố tiếp theo cần xem xét. Ví dụ dưới đây thể hiện một cây quyết định đơn giản, với 8 hệ thống thang điểm chỉ bao gồm ba cấp: A (đồng ý cấp tín dụng), B (xem xét thêm) và c (từ chối): H ình 1.1: x ế p hạng theo cây q u yết định So với thẻ điểm, cây quyết định có ưu điểm nổi bật là nó xem xét và khai thác mối quan hệ tưong tác giữa các nhân tố. Hơn nữa, cây quyết định chỉ có một mốc phân chia tối ưu cho từng nhân tố, nên không ảnh hưởng được các mức độ hoạt động đa dạng của doanh nghiệp. Định dạng thứ ba, đang ngày càng trở nên phổ biến, của hệ thống xếp hạng tín dụng là mạng thần kinh nhân tạo (neural networks).
Mô hình mạng thần kinh nhân tạo là thuật toán thông minh nhân tạo cho phép ứng dụng các kinh nghiệm thực hành để xác định và tự động điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhân tố rủi ro của khách hàng vay và xác suất vỡ nợ. Tuy được đánh giá là vượt xa các định dạng thẻ điểm và cây quyết định về khả năng dự báo rủi ro nhưng do tính phức tạp về mặt toán học cũng như các yêu cầu cao về phần mềm hỗ trợ đã hạn chế việc ứng dụng rộng rãi định dạng này. Đặc điểm chung của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thường có những đặc điểm chung sau: - Chủ thể xếp hạng: Các đối tượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. - Tỉnh chất của hệ thống xếp hạng: Có hai tính chất của hệ thống xếp hạng đó là trên cơ sở các dự đoán để xếp hạng khách hàng theo khả năng không trả được nợ trong năm tới (tính thời điểm) hoặc khả năng không trả được nợ dưới các tình huống sức ép (tính hệ thống).
- Số lượng các hạng: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thường có nhiều mức hạng để ngân hàng có thể phân định rõ hơn các cấp độ rủi ro. Với các ngân hàng lớn, hệ thống xếp hạng tín dụng thường bao gồm từ 15 - 20 mức xếp hạng. Các ngân hàng trung bình có thể có đến 10 mức xếp hạng, hoặc ít hơn, chỉ khoảng 4 mức với các ngân hàng nhỏ. - Đổi tượng sử dụng kết quả xếp hạng: xếp hạng tín dụng nội bộ của một ngân hàng thường được ban hành nội bộ mà không tiết lộ cho bên ngoài.
Trong khi đó, kết quả xếp hạng của các công ty được công bố rộng rãi cho công chúng và là cơ sở quan trọng để các nhà đầu tư tham khảo trước khi quyết định đầu tư vào trái phiếu của doanh nghiệp. về nguồn thông tin: Với vai trò đặc thù, ngân hàng có khả năng tiếp cận khá cao với thông tin sử dụng để xếp hạng, đặc biệt là các nguồn thông tin mật. Quy trình xếp hạng tín dụng nội bộ Quy trình xếp hạng tín dụng nội bộ thông thường được thực hiện qua các bước: (i) xác định ngành nghề kinh doanh chủ yếu của khách hàng; (ii) xác định qui mô hoạt động của khách hàng; (iii) xác định nhóm khách hàng và loại hình sở hữu; (iv) thu thập thông tin của khách hàng; (v) chấm điểm 10 các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính; (vi) tổng hợp điểm và xếp hạng tín dụng. Các phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ 1.
Phương pháp mô h ình thống kê Triết lý căn bản của phương pháp mô hình thống kê là mức độ rủi ro của một khách hàng mới có thể được dự đoán dựa trên cơ sở mức độ rủi ro của các khách hàng tương tự trong quá khứ, mà thông tin về tình hình trả nợ của các khách hàng đó ngân hàng đã nắm bắt được. Nói cách khác, phương pháp này được phát triển dựa trên quan điểm khách hàng có các nhân tố rủi ro tương tự nhau thì độ tín nhiệm trong quan hệ tín dụng của khách hàng cũng tương tự nhau do đó nên được đối xử tín dụng như nhau. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp định lượng. Nội dung cơ bản của phương pháp này có thể mô tả như sau: Giả sử chúng ta có các thông tin liên quan đến độ tín nhiệm của một khách hàng dưới dạng sau: Các biến độc lập: Xj, i = l,.